Luận Giải Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Số 4 – Quẻ Sơn Thủy Mông

Phần 1: Luận đoán quẻ Mông trong cuộc sống
Ước muốn: Rất khó đạt được ước muốn. Hãy nhẫn nại chờ cơ hội thuận lợi.
Hôn nhân: Cơ hội thành công rất bếp bênh. Chẳng có gì để làm trong lúc này ngoài sự chờ đợi. Đối tượng phù hợp đang ở một nơi rất xa.
Tình yêu: Không biết cách xử lý tình huống và thái độ thiếu quả quyết sẽ thất bại.
Gia đạo: Hoàn cảnh khó khăn, chẳng có sự tương đắc hay hòa hợp nào cả. Tất cả phải đối xử với nhau bằng thái độ thành thực để thay đổi tình hình.
Con cái: Đông con nên có nhiều khó khăn và rắc rối. Hãy quan tâm đến việc giáo dục con cái và chúng sẽ mang đến hạnh phúc cũng như may mắn trong tương lai. Thai nghén: con trai.
Vay vốn: Rất khó thành công.
Kinh doanh: Không suôn sẻ, vất vả. Phải chờ đến lúc tốt đẹp hơn.
Chứng khoán: Giá cả không ổn định, sẽ tăng về sau.
Tuổi thọ: Bệnh tật và yếu. Có khả năng bị đoản thọ. Bạn cần hết sức quan tâm đến việc chăm sóc sức khỏe của mình.
Bệnh tật: Các chứng bệnh về não và các vùng bụng dưới, các bệnh truyền nhiễm. Kéo dài và đầy buồn phiền. Hãy hết sức chú trọng việc nghỉ ngơi và dưỡng bệnh mới có hy vọng bình phục.
Chờ người: Sẽ đến chỗ đó về sau, hãy yên tâm chờ đợi.
Tìm người: Người đó đang bị lôi kéo, cám dỗ hay lạc đường. Việc tìm kiếm sẽ mất khá nhiều thời gian. Hãy tìm từ hướng Đông sang hướng Bắc.
Vật bị mất: Đã bị đặt sai chỗ hay bị nằm bên dưới một vật gì đó, hãy tìm từ hướng Đông sang hướng Bắc.
Du lịch: Nhiều trở ngại và chậm trễ. Phải thận trọng và biết cân nhắc khi đưa ra quyết định.
Kiện tụng và tranh chấp: Bất lợi. Sẽ bị trì hoãn và kéo dài mà không đạt được bất kỳ kết thúc nào. Không đáng để cố gắng.
Việc làm: Hãy cẩn thận và chuyên cần, bạn sẽ đạt được mục tiêu hay kỳ vọng của mình. Cấp trên có thể sẽ cất nhắc, nâng bậc hay thăng chức cho bạn, nhưng phải thận trọng.
Thi cử: Điểm rất thấp.
Kinh doanh mới, thay đổi nghề nghiệp, chuyên môn hay chỗ làm: Không phải lúc thích hợp. Tốt nhất nên chờ.
Thời tiết: Trời âm u và mưa.
Phần 2. Luận giải theo ngôn ngữ hiện đại
1. Tên quẻ: Sơn Thủy Mông
Ý nghĩa tổng quan: Quẻ Mông nói về giai đoạn khởi đầu, còn nhiều bỡ ngỡ và thiếu kinh nghiệm. “Mông” hàm ý sự ngây thơ, non nớt, chưa hiểu biết trọn vẹn. Tuy nhiên, chính trong cái “chưa biết” ấy lại ẩn chứa tiềm năng lớn lao để học hỏi, phát triển.
2. Hình ảnh và biểu tượng:
– Hình ảnh: “Nhân tàng lộc bảo” (Người cất giấu lộc báu) – Ám chỉ tiềm năng chưa được khai phá, cần thời gian và nỗ lực để phát lộ.
– Biểu tượng: “Vạn vật phát sinh” – Sự sống mới chớm nở, đòi hỏi sự chăm sóc tỉ mỉ.
3. Luận giải từng hào:
– Hào 1 (Sơ Lục): Hào đầu cho thấy sự ngây ngô, mới bắt đầu. Nếu ở vị trí này ta biết tự giác tìm đến thầy giỏi, biết kiềm chế tính bốc đồng ắt hẳn sẽ có cơ hội phát triển. Tuy nhiên, ngược lại, nếu cố chấp hoặc không chịu tiếp thu, dễ vướng sai lầm ngay từ đầu.
– Hào 2 (Lục Nhị): Hào này biểu thị sự tiếp thu kiến thức một cách đúng đắn, có người chỉ dẫn và người học cũng thực sự mong muốn học hỏi. Nếu duy trì thái độ khiêm tốn, chịu khó, thành quả tốt đẹp sẽ đến.
– Hào 3 (Lục Tam): Hào này nói về sự bối rối hoặc do dự, có lúc thiếu kiên định. Người ở vị trí này cần tránh tâm lý vừa muốn học vừa tự cao mà phải nhất quán: hoặc khiêm tốn cầu thị, hoặc nếu không sẽ mãi loay hoay, không tiến xa.
– Hào 4 (Lục Tứ): Đây là giai đoạn chuyển biến: người học đã có một số kiến thức, nhưng vẫn cần được giám sát, hướng dẫn; phải cẩn trọng, tránh tự mãn vì chút hiểu biết ban đầu. Thay vào đó, giữ vững ý chí cầu tiến, biết lắng nghe sẽ có lợi.
– Hào 5 (Lục Ngũ): Hào này thường là vị trí “quân tử” hoặc “người thầy”. Hào 5 trong quẻ Mông khuyến khích sự bao dung, dẫn dắt khéo léo, giúp người “non dại” biết đường tiến bộ. Dạy người khác cũng là cách tự hoàn thiện bản thân.
– Hào 6 (Thượng Lục): Hào trên cùng biểu thị trạng thái “mông muội” nhưng không muốn tiếp thu, không chịu sửa đổi. Nếu để tình trạng này kéo dài, sẽ dẫn tới hậu quả xấu. Lời khuyên ở đây là phải “phản tỉnh” (nhìn lại mình) và chủ động thay đổi.
4. Ứng dụng quẻ Mông trong cuộc sống:
– Công danh, sự nghiệp: Quẻ Mông nhắc nhở rằng trong công việc, nhất là khi bắt đầu sự nghiệp, ta phải biết khiêm tốn học hỏi, dù ở vị trí cao hay thấp, cũng hãy giữ tinh thần cầu thị. Còn nếu đang ấp ủ dự án mới, hãy chuẩn bị kỹ lưỡng, tham khảo ý kiến người có kinh nghiệm, cẩn thận với sự nóng vội và chủ quan.
– Tài lộc: Quẻ Mông gợi ý giai đoạn đầu tư ban đầu cần học hỏi kiến thức chuyên môn, tìm hiểu thị trường, ránh “non dại” chạy theo lời đồn hay ham lợi nhanh.
– Tình duyên, gia đạo: Trong chuyện tình cảm, quẻ Mông khuyên ta hãy lắng nghe, thấu hiểu đối phương, đừng vội vàng kết luận khi chưa thực sự hiểu nhau.
– Sức khỏe: Sức khỏe cũng cần “học” cách chăm sóc, tự tìm hiểu kiến thức khoa học, không nên tùy tiện; bắt đầu từ những điều cơ bản nhất như: ăn uống lành mạnh, luyện tập vừa sức, duy trì tinh thần lạc quan.
5. Lời khuyên: Quẻ Sơn Thủy Mông khuyên dạy ta rằng mọi khởi đầu đều mang tính “non dại” và “chưa biết”. Đó không phải điều xấu, mà là cơ hội để mỗi người chúng ta học hỏi, rèn giũa và tiến bộ. Khi ta thành tâm cầu học, biết tôn trọng người thầy và luôn duy trì lòng khiêm tốn, con đường phía trước sẽ rộng mở. Ngược lại, nếu tự mãn, không chịu lắng nghe hay cố chấp trong nhận thức cũ, ta sẽ mãi chìm trong bóng tối của sự “mông muội”. Hãy giữ vững tinh thần cầu thị, trân trọng tri thức và sẵn sàng thay đổi để hoàn thiện bản thân.
Phần 3. Luận giải theo ngôn ngữ của các bậc tiên nho
1. Quẻ Sơn Thủy Mông trong Kinh Dịch
Tổng quan Quẻ Phục Hy Sơn Thủy Mông
Quẻ Sơn Thủy Mông hay được gọi là Quẻ Mông, là quẻ số 4 trong 64 Quẻ Kinh Dịch thuộc loại quẻ Hung.
Ngoại quái: ☶ Cấn (艮) – Sơn (山) tức Núi – Ngũ hành Thổ.
Nội quái: ☵ Khảm (坎) – Thủy (水) tức Nước – Ngũ hành Thủy.
Thuộc nhóm tượng quái Ly, Ngũ hành Hỏa.
Thoán từ
Lời kinh: 蒙亨, 匪我求童蒙, 童蒙求我.初筮吿, 再三瀆, 瀆則不吿, 利貞.
Dịch âm: Mông hanh, phỉ ngã cầu đồng mông, đồng mông cầu ngã. Sơ phệ cốc, tái tam độc, độc tắc bất cốc, lợi trinh.
Dịch nghĩa: Trẻ thơ được hanh thông. Không phải ta tìm trẻ thơ mà trẻ thơ tìm ta. Hỏi (bói) một lần thì bảo cho, hỏi hai ba lần thì là nhàm, nhàm thì không bảo. Hợp với đạo chính thì lợi (thành công).
Giải nghĩa: Mông: Muội dã. Bất minh. Tối tăm, mờ ám, không minh bạch, che lấp, bao trùm, phủ chụp, ngu dại, ngờ nghệch. Thiên võng tứ trương chi tượng: tượng lưới trời giăng bốn mặt.
Tượng quẻ
Lời kinh: 象⽈:出下出泉, 蒙. 君⼦以果⾏, 育德.
Dịch âm: Tượng viết: Sơn hạ xuất tuyền, Mông, quân tử dĩ quả hạnh, dục đức.
Dịch nghĩa: Lời tượng nói rằng: Dưới núi ra suối, là quẻ Mông, đấng quân tử coi đó mà quyết việc làm, nuôi lấy đức.
Giải nghĩa: Dưới núi ra suối, ra mà gặp phải chỗ hiểm, chưa đi, đó là tượng quẻ Mông, ví như người ta trẻ thơ, chưa hề đến đâu. Đấng quân tử xem tượng quẻ Mông mà quyết việc làm, nuôi lấy đức, nghĩa là coi nó chảy ra mà chưa thể thông đi, để mình quả quyết việc của mình làm; coi nó mới ra mà chưa thể ngoảnh về đâu, để mình nuôi lấy cái mình sở đắc vậy.
Các hào
1. Sơ Lục (Hào 1 âm):
Lời kinh: 初 六: 發 蒙, 利 用 刑 人, 用 說 桎 梏, 以 往 吝.
Dịch âm: Phát mông, lợi dụng hình nhân, Dụng thoát chất cốc, dĩ vãng lận.
Dịch nghĩa: Mở mang cái tối tăm (cho hạng người hôn ám) thì nên dùng hình phạt cốt cho họ thoát khỏi gông cùm, nhưng đừng đi quá mức sẽ hối tiếc.
Giải nghĩa: Hào âm này vị ở thấp nhất trong quẻ Mông là tượng kẻ hôn ám nhất, phải dùng hình phạt trừng trị mới cởi cái gông cùm (vĩ vật dục) cho họ được; khi có kết quả rồi thì thôi, đừng quá dùng hình phạt mà sẽ ân hận.
Chữ: “dụng hình nhân”, dịch sát là dùng người coi về hình, tức dùng hình phạt.
2. Cửu Nhị (Hào 2 dương):
Lời kinh: 九 二 . 包 蒙 吉 . 納 婦 吉 . 子 克 家.
Dịch âm: Bao mông cát, nạp phụ cát, tử khắc gia.
Dịch nghĩa: Bao dung kẻ mờ tối, dung nạp hạng người nhu ám như đàn bà, tốt; (ở ngôi dưới mà gánh vác việc trên) như người con cai quản được việc nhà.
Giải nghĩa: Hào 2 dương, cương cường, nhưng đắc trung cho nên bảo là có đức bao dung; nó làm chủ nội quái, thống trị cả bốn hào âm, cho nên bảo nó dung nạp được các hào âm, tức hạng người nhu ám như đàn bà, nó ở dưới thấp mà lại là hào quan trọng nhất trong quẻ, nên ví nó như người con cai quản được việc nhà. Tóm lại hào này tốt.
Phan Bội Châu giảng ba chữ “tử khắc gia”cách khác: Cụ cho hào 5 ở địa vị tôn trong quẻ trên (ngoại quái) tức như cha trong nhà, hào 2 ở dưới, tức như con. Cha nhu nhược (vì là âm), con cương cường sáng suốt (vì là dương), cảm hóa được cha mà cha hết hôn ám, như vậy là con chỉnh lý được việc nhà.
Cao Hanh chỉ đứng về phương diện bói, mà không đứng về phương diện đạo lý, không cho Kinh Dịch có ý nghĩa triết lý, xử thế, cho nên hiểu khác hẳn: giảng “nạp phụ” là cưới vợ cho con “tử khắc gia” là con thành gia thất, đó là cái việc tốt của người làm bếp mắt không có đồng tử (bao mông, theo ông là : bào mông, bào là người làm bếp, mông là mắt không có đồng tử). Đại khái cách hiểu của Cao Hanh như vậy, xin đơn cử làm thí dụ.
3. Lục Tam (Hào 3 âm):
Lời kinh: 六 三: 勿 用 取 女 見 金 夫 .不 有 躬, 无 攸 利.
Dịch âm: Vật dụng thủ nữ kiến kim phu. Bất hữu cung, vô du lợi.
Dịch nghĩa: Đừng dùng hạng con gái thấy ai có vàng bạc là (theo ngay) không biết thân mình nữa; chẳng có lợi gì cả.
Giải nghĩa: Hào 3 là âm nhu (ở trong quẻ Mông, là hôn ám) bất trung, bất chính, cho nên ví với người con gái không có nết, bất trinh, ham của. Mà hạng tiểu nhân thấy lợi quên nghĩa cũng vậy (âm còn có nghĩa là tiểu nhân). Phan Bội Châu cho hào này xấu nhất; hạng người nói trong hào không đáng dùng, không đáng giáo hóa nữa.
4. Lục Tứ (Hào 4 âm):
Lời kinh: 六 四: 困, 蒙, 吝.
Dịch âm: Khốn, mông, lận.
Dịch nghĩa: Bị khốn trong vòng hôn ám, hối tiếc.
Giải nghĩa: Quẻ Mông chỉ có hào 2 và 6 là dương cương, có thể cởi mở sự hôn ám được, còn hào 4 kia đều là âm hết. Hào 4 này cũng hôn ám như hào 3, nhưng còn tệ hơn hào 3 vì ở xa hào 2 dương (hào 3 còn được ở gần hào 2 dương ), mà chung quanh đều là âm hết (hào 3 và hào 5), như bị nhốt trong vòng hôn ám, tất bị khốn sẽ phải hối tiếc, xấu hổ.
Tiểu tượng truyện giảng: nó phải hối tiếc, xấu hổ vì chỉ một mình nó trong số bốn hào âm là ở xa các hào “thực” tức các hào dương. Hào dương là nét liền, không khuyết ở giữa, nên gọi là “thực” (đặc, đầy) hào âm là vạch đứt, khuyết ở giữa nên gọi là “hư” ; “thực” tượng trưng người có lương tâm “hư” tượng người không có lương tâm.
5. Lục Ngũ (Hào 5 âm):
Lời kinh: 六 五: 童 蒙 吉.
Dịch âm: Đồng mông cát.
Dịch nghĩa: Bé con, chưa biết gì (nhưng dễ dạy), tốt.
Giải nghĩa: Hào 5 này là hào âm tốt nhất như chúng tôi đã nói khi giảng Thóan từ của Văn Vương, vì nó có đức nhu (âm) trung (ở giữa ngọai quái), lại ứng với hào 2 cương ở dưới, có thể ví nó với đứa trẻ dễ dạy, biết nghe lời thầy (hào 2).
Phan Bội Châu coi hào này như ông vua (vì ở ngôi cao quí nhất trong quẻ) biết tín nhiệm hiền thần (hào 2).
6. Thượng Cửu (Hào 6 dương):
Lời kinh: 上 九: 擊 蒙 不 利 為 寇 , 利 禦 寇.
Dịch âm: Kích mông bất lợi vi khấu, lợi ngự khấu.
Dịch nghĩa: Phép trừ cái ngu tối mà nghiêm khắc quá thì kẻ mình dạy dỗ sẽ phẫn uất, có thể thành giặc, như vậy không có lợi, ngăn ngừa giặc ở ngoài (tức những vật dục quyến rũ kẻ đó) thì có lợi.
Giải nghĩa: Hào này ở trên cùng quẻ Mông, có nghĩa sự ngu tối tới cùng cực; nó là dương, ở trên cùng, mà bất trung, cho nên tuy có tài mở mang sự ngu tối nhưng quá nghiêm khắc, làm cho kẻ ngu tối phẫn uất, phản kháng, bất tuân giáo hóa, có thể thành giặc, có hại (chữ “khấu có cả hai nghĩa: giặc, có hại), nên tìm cách ngăn ngừa những vật dục quyến rũ nó thì hơn; mà “cả thầy lần trò đều thuận đạo lý (thượng hạ thuận dã, Tiểu tượng truyện).
Quẻ này nói về cách giáo hóa, cần nghiêm (hào 1) nhưng không nên nghiêm khắc quá mà nên ngăn ngừa lỗi của trẻ (hào 6).
2. Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Sơn Thủy Mông trong chiêm bốc, đoán quẻ
Triệu và điềm của quẻ Mông
Quẻ Mông có triệu Tiểu Quỷ Thâu Tiền – Thời vận không hay. Có bài thơ như sau:
Bốc phải quẻ này, phạm Tiểu hao,
Cầu lộc, cầu danh chớ có làm.
Hôn nhân, góp vốn có người phá,
Giao dịch xuất hành, chịu gian lao
Dụng thần quẻ Mông
Trong quẻ Mông thiếu một thân là Thê Tài Kỷ Dậu Kim, đây chính là Phục Thần của Mông, vậy Phi Thần là Tử Tôn Bính Tuất Thổ hào tứ. Trong quẻ này Phi Thần Thổ sinh Phục thần Kim, bởi vậy Phục Thần xuất hiện được.
