Luận Giải Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Số 12 – Quẻ Thiên Địa Bĩ

Phần 1. Luận đoán quẻ Bĩ trong cuộc sống
Ước muốn: Hết sức khó khăn.
Hôn nhân: Cả hai không xứng đôi cũng không tâm đầu ý hợp với nhau. Cả hai có thể sẽ chia tay nhau.
Tình yêu: Hai bên tâm ý bất tương thông.
Gia đạo: Các thành viên trong gia đình đang bất hòa với nhau. Cũng có khả năng sẽ gặp lúc gian truân.
Con cái: Có ít con nếu không muốn nói là không có. Có thể có những cảm nghĩ không tốt giữa cha mẹ và con cái. Thai nghén: con gái.
Vay vốn: Không thành công. Kinh tế đang trì trệ.
Kinh doanh: Thiếu hụt hoặc lỗ.
Chứng khoán: Giá thấp.
Tuổi thọ: Suy yếu, sức khỏe kém – đoản thọ.
Bệnh tật: Nghiêm trọng. Có xác suất sẽ không phục hồi được sứ khỏe. Các bệnh thường liên quan đến các cơ quan hô hấp và não, bệnh ung thư.
Chờ người: Vô vọng.
Tìm người: Người này đã đi xa bởi oán hận hay do bị phụ tình. Không rõ người này đã đi đâu.
Vật bị mất: Đã lọt vào tay của người khác. Sẽ không tìm lại được.
Du lịch: Khó khăn và trở ngại. Chẳng có cách nào đến được nơi muốn đến.
Kiện tụng và tranh chấp: Thất bại.
Việc làm: Không hy vọng.
Thi cử: Điểm thấp.
Kinh doanh mới, thay đổi nghề nghiệp, chuyên môn hay chỗ làm: Chưa phải lúc thích hợp, khó thực hiện được. Nên buông bỏ những dự tính để đảm bảo an toàn.
Thời tiết: Xấu.
Phần 2. Luận giải theo ngôn ngữ hiện đại
1. Tên quẻ: Thiên Địa Bĩ
2. Ý nghĩa tổng quan: Quẻ Thiên Địa Bĩ tượng trưng cho sự chia lìa, bất hòa giữa trời (Thiên) và đất (Địa). Đây là quẻ Hung, phản ánh thời kỳ âm dương không giao hòa, dẫn đến trở ngại, hiểu lầm và bế tắc. Quẻ cảnh báo về sự thiếu kết nối, mất cân bằng trong các mối quan hệ và công việc, đòi hỏi sự kiên nhẫn và điều chỉnh thái độ để vượt qua.
3. Hình ảnh và biểu tượng:
– Hình ảnh: “Thiên địa bất giao” (Đất trời không tiếp xúc nhau) => Trời đất không giao hòa, biểu tượng của sự ngăn cách, xung đột và bất đồng.
– Biểu tượng: “Nhân khẩu bất viên” (Miệng người không tròn, lưỡi người không xương) => Chỉ sự bất đồng, bất tín trong giao tiếp
4. Luận giải từng hào:
– Hào 1: Thời vận rối ren, tiểu nhân nắm quyền nên người quân tử dễ bị chèn ép, lạc lõng, tốt nhất nên giữ thái độ khiêm tốn, không tranh đấu, chờ thời cơ mới.
– Hào 2: Dù đang ở hoàn cảnh bất lợi nhưng vẫn giữ đạo đức, trung hậu và ngay thẳng. Nhờ đó mà dần dần được người tốt trợ giúp, thoát khỏi nguy nan.
– Hào 3: Đứng ở vị trí dễ bị hiểu lầm hoặc lợi dụng, tiểu nhân bao quanh khiến lòng người chia rẽ. Nếu không thận trọng lời nói và hành động thì dễ vướng tai tiếng.
– Hào 4: Người có tài nhưng bị ngăn trở bởi hoàn cảnh, tạm thời chưa thể tiến thân. Nếu biết lui về giữ mình, quan sát tình thế sẽ tránh được họa vô cớ.
– Hào 5: Là vị trí của người lãnh đạo sáng suốt, có thể xoay chuyển cục diện nếu biết dụng hiền và hành xử công minh. Đây là ánh sáng le lói giữa giai đoạn bế tắc.
– Hào 6: Tình thế đạt đến đỉnh điểm của sự bế tắc, tưởng chừng không còn lối thoát, nhưng nếu vẫn giữ được đạo nghĩa thì chính lúc cực cùng ấy là điểm bắt đầu của thay đổi.
5. Ứng dụng quẻ Bĩ trong cuộc sống:
– Công danh, sự nghiệp: Làm việc dễ gặp cản trở, bị hiểu lầm hoặc không được công nhận, lúc này nên im lặng quan sát, cố gắng giữ vững vị trí và chờ thời cơ.
– Tài lộc: Tiền bạc khó kiếm, dễ thất thoát, không nên đầu tư hay cho vay, tốt nhất là chi tiêu tiết kiệm và giữ tài sản an toàn.
– Tình duyên, gia đạo: Tình cảm lạnh nhạt, dễ cãi vã hoặc xa cách vì không hiểu nhau, cần nói chuyện nhẹ nhàng, lắng nghe nhiều hơn để hòa giải.
– Sức khỏe: Cơ thể dễ mệt mỏi, tinh thần căng thẳng vì lo nghĩ nhiều, nên nghỉ ngơi, ăn uống điều độ và giữ tinh thần thoải mái.
6. Lời khuyên: Quẻ Thiên Địa Bĩ nhắc nhở: “Gió bão rồi cũng qua, kiên tâm ắt thấy lối”. Trong thời điểm bế tắc, hãy giữ tâm thế bình tĩnh, tránh nóng vội hoặc quyết định cảm tính. Tập trung vào việc cải thiện bản thân, lắng nghe ý kiến khác biệt và tìm cách hóa giải mâu thuẫn từ gốc rễ. Hãy nhớ rằng, khó khăn chỉ là tạm thời nếu bạn biết kiên nhẫn và điều chỉnh hành động phù hợp với hoàn cảnh, sự chân thành và khiêm tốn sẽ giúp bạn dần mở ra cánh cửa mới.
Phần 3. Luận giải theo ngôn ngữ của các bậc tiên nho
1. Quẻ Thiên Địa Bĩ trong Kinh Dịch
Tổng quan Quẻ Phục Hy Thiên Địa Bĩ
Quẻ Thiên Địa Bĩ hay được gọi là Quẻ Bĩ, là quẻ số 12 trong 64 Quẻ Kinh Dịch thuộc loại quẻ Hung.
Ngoại quái: ☰ Càn (乾) – Thiên (天) tức Trời – Ngũ hành Kim.
Nội quái: ☷ Khôn (坤) – Địa (地) tức Đất – Ngũ hành Thổ.
Thuộc nhóm tượng quái Càn, Ngũ hành Kim.
Thoán từ
Lời kinh: 否之匪人, 不利君子貞, 大往小來.
Dịch âm: Bĩ chi phỉ nhân. Bất lợi quân tử trinh, đại vãng tiểu lai.
Dịch nghĩa: Bĩ không phải đạo người (phi nhân nghĩa như phi nhân đạo), vì nó không lợi cho đạo chính của quân tử (Tượng của nó là) cái lớn (dương ) đi mà cái nhỏ (âm) lại.
Bĩ: Tắc dã. Gián cách. Bế tắc, không thông, không tương cảm nhau, xui xẻo, dèm pha, chê bai lẫn nhau, mạnh ai nấy theo ý riêng. Thượng hạ tiếm loạn chi tượng: trên dưới lôi thôi.
Trong vũ trụ không có gì là thông hoài được, hết thông thì tới bế tắc, cùng, cho nên sau quẻ Thái tới quẻ Bĩ.
Tượng quẻ
Lời kinh: 象⽈:天地不交, 否, 君⼦以儉德辟難,不可榮與祿.
Dịch âm: Tượng viết: Tiên địa bất giao, Bĩ, quan tử dĩ kiệm đức ty nạn, bất khả vinh dĩ lộc.
Dịch nghĩa: Lời Tượng nói rằng: Trời đất không giao nhau là quẻ Bĩ, đấng quân tử coi đó để dè đức, lánh nạn, không thể vẻ vang bằng lộc.
Giải nghĩa: Trời đất không giao thông với nhau, cho nên là Bĩ. Trong lúc bĩ tắc, đạo đấng quân tử phải tiêu, nên coi tượng bĩ tắc đó mà dè dặt về đức, lánh tránh vạ nạn, không thể vẻ vang ở chỗ lộc vị. Bĩ là lúc tiểu nhân đắc chí, đấng quân tử ở hiển vinh, vạ lo ắt tới thân mình, cho nên cần nên ẩn lánh vào nơi bần cùng chật hẹp.
Các hào
1. Sơ Lục (Hào 1 âm):
Lời kinh: 初 六: 拔茅茹, 以其彙, 貞吉亨.
Dịch âm: Bạt mao nhự, dĩ kỳ vị, trinh cát hanh.
Dịch nghĩa: Nhổ rễ cỏ mao mà được cả đám, hễ chính thì tốt mà hanh thông.
Giải nghĩa: Hào này rất giống hào 1 quẻ Thái: cũng “bạt mao dĩ kỳ vị” vì quẻ Thái hào 1 cặp với hai hào trên, quẻ này cũng vậy, cũng có đồng chí, làm việc dễ có kết quả; chỉ khác quẻ thái hào 1 là dương, quân tử, quẻ này hào 1 là âm, tiểu nhân; cho nên quẻ Thái khuyên cứ tiến lên (chính) sẽ tốt; còn quẻ này thì khuyên phải “trinh” chính đáng (trinh – khác nhau ở hai chữ chính [正] và trinh [貞] thì sẽ tốt và hanh thông.
Hào 1 quẻ Bĩ là tiểu nhân nhưng mới bước đầu, cái ác chưa hiện rõ, lại ứng hợp với hào 4 ở trên là quân tử, cho nên còn có hy vọng cải hóa được. Ðại tượng truyện bảo: nếu để tâm giúp nước (chí tại quân – quân là vua, là quốc gia) như hào 4 thì sẽ tốt. Như vậy là có ý khuyên tiểu nhân nên đứng vào phe quân tử .
2. Lục Nhị (Hào 2 âm):
Lời kinh: 六 二: 包承, 小人吉;大人否, 亨.
Dịch âm: Bào thừa, tiểu nhân cát; đại nhân bĩ, hanh.
Dịch nghĩa: Tiểu nhân chịu đựng và vâng thuận người quân tử thì tốt: đại nhân (có đức lớn) nên giữ tư cách trong cảnh bế tắc (khốn cùng) thì hanh thông.
Giải nghĩa: Hào này tuy là tiểu nhân, nhưng đắc trung đắc chính, chung quanh là tiểu nhân cả, mà ứng hợp với hào 5 quân tử ở trên, cho nên hào từ khuyên nó nên vâng thuận quân tử thì tốt. Còn kẻ đại nhân được bọn tiểu nhân vâng thuận – vì chúng muốn mua danh – thì cũng đừng theo chúng, cứ giữ khí tiết của mình trong thời khốn cùng, như vậy sẽ hanh thông.
3. Lục Tam (Hào 3 âm):
Lời kinh: 六 三: 包羞.
Dịch âm: Bao tu.
Dịch nghĩa: Chứa chất sự gian tà, xấu hổ.
Giải nghĩa: Hào này, không trung, không chính, là kẻ đứng đầu bọn tiểu nhân (vì ở trên cùng nội quái khôn), cho nên rất xấu, đáng ghét.
4. Cửu Tứ (Hào 4 dương):
Lời kinh: 九 四: 有命, 无咎.疇離祉.
Dịch âm: Hữu mệnh, vô Cửu. Trù li chỉ.
Dịch nghĩa: Có mệnh trời (tức như thời vận đã tới) thì không lỗi mà bạn của mình cũng nhờ cậy mình mà được hưởng phúc.
Giải nghĩa: Hào này ở quá nửa quẻ Bĩ, có mòi sắp hết bĩ rồi, cho nên nói là thời vận đã tới; nó là dương ở trong ngọai quái Càn, chính là người quân tử thực hiện được chí của mình. Bạn của nó, tức hai hào 5, 6 cùng là dương cả – cũng sẽ được hưởng phúc.
5. Cửu Ngũ (Hào 5 dương):
Lời kinh: 九 五: 休否, 大 人吉.其亡, 其亡, 繫于苞桑.
Dịch âm: Hưu bĩ, đại nhân cát. Kỳ vong, kỳ vong, hệ vu bao tang.
Dịch nghĩa: Làm cho hết bĩ, đó là đạo tốt của bậc đại nhân (tuy nhiên, phải biết lo). Có thể mất đấy, (đừng quên điều đó thì mới vững như buộc vào một cụm dâu (dây dâu nhiều rễ, ăn sâu dưới đất, rất khó nhổ).
Giải nghĩa: Hào này có đức dương cương trung chính, lại ở vào ngôi chí tôn, trong thời Bĩ sắp hết, cho nên lời đoán là tôt. Những vẫn phải thận trọng, đừng sai sót.
Theo Hệ từ hạ chương V thì Khổng tử đọc tới hào này, bàn thêm rằng: “Người quân tử khi yên ổn thì không nên quên rằng sẽ có thể nguy; khi vững thì không quên rằng có thể mất, khi trị thì không quên rằng sẽ có thể loạn. Nhờ vậy mà thân an nước nhà giữ vững được.”
6. Thượng Cửu (Hào 6 dương):
Lời kinh: 上 九: 傾否, 先否, 後喜.
Dịch âm: Khuynh bĩ, tiên bĩ, hậu hĩ.
Dịch nghĩa: Đánh đổ được cái bĩ, trước còn bĩ, sau thì mừng.
Giải nghĩa: Đây là thời cuối cùng của Bĩ mà bĩ cực thì thái lai; người quân tử có tài sẽ dắt cả bạn bè (trỏ hào 4 và 5) mà đánh đổ dược bĩ. Nhưng mới đầu còn phải lo lắng (tiên bĩ) sau mới mừng là bước lên được cảnh Thái rồi.
Chúng ta để ý: Quẻ Thái, mới đến hào 3, còn thịnh cực mà Dịch đã khuyên phải giữ được chính đáng trong cảnh gian nan (gian trinh); còn quẻ Bĩ, khi mới tới hào 4, mới có mòi sắp hết bĩ mà Dịch đã khuyên là thời đã tới, người quân tử nên thực hiện chí của mình đi. Nghĩa là luôn luôn phải sẵn sàng để nắm ngay lấy cơ hội.
2. Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Thiên Địa Bĩ trong chiêm bốc, đoán quẻ
Triệu và điềm của quẻ Bĩ
Quẻ Bĩ có triệu Hổ Lạc Hãm Khanh – Cát ít hung nhiều. Có bài thơ như sau:
Hổ sa hố sâu thật là thảm,
Tiến lên thì dễ, rút về khó.
Học hành buôn bán, đều không được,
Cãi cọ liên miên, bệnh tật hoài.
Dụng thần quẻ Bĩ
Quẻ Bĩ thiếu hành Thủy Tử Tôn (ứng với Giáp Tý sơ hào Càn). Như vậy, Phục hào là Giáp Tý Tử Tôn ở sơ hào, Phi Thần là Ất Mùi Phụ Mẫu cũng ở sơ hào mang hành thổ. Theo ngũ hành, ở đây Phi Thần khắc Phục Thần, không cho Phục Thần Giáp Tý xuất hiện. Điều này phản ánh, Phi Thần tự hại mình vì đã kiềm chế ngay phần tử đứng sau mình để “ủng hộ” mình.
