Luận Giải Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Số 23 – Quẻ Sơn Địa Bác

Phần 1. Luận đoán quẻ Bác trong cuộc sống
Ước muốn: Sẽ không trở thành hiện thực.
Hôn nhân: Không xứng đôi. Nếu vẫn kết hôn, người chồng sẽ chết trước tiên. Không thể tin tưởng hoàn toàn người mai mối hay người giới thiệu.
Tình yêu: Sẽ kết thúc trong bi kịch hoặc bị phía bên kia từ chối, có thể bị xua đuổi.
Gia đạo: Gia cảnh sa sút. Thêm nữa, các thành viên trong gia đình và bà con lạnh nhạt với nhau. Phải nhẫn nại và im lặng chịu đựng gian khó lẫn cay đắng để gia đình giành lại được vận may.
Con cái: Không con, con cái yếu đuối và hay bệnh, bất đồng giữa cha mẹ và con cái. Thai nghén: con gái.
Vay vốn: Không thành công.
Kinh doanh: Thất bại và lỗ. Tốt nhất hãy rút lui và chờ thời cơ thích hợp.
Chứng khoán: Suy thoái.
Tuổi thọ: Bệnh tật và đoản thọ. Phải biết chú trọng đến sự tu dưỡng.
Bệnh tật: Có thể gặp phải tử vong. Bệnh truyền qua đường sinh dục, chứng viêm phúc mạc, bệnh lao, các tật bệnh về phổi, các bệnh liên quan đến đầu.
Chờ người: Sẽ không đến. Nếu có đến, người này sẽ mang lại rắc rối.
Tìm người: Người này đã đi bởi có sự thất bại, vấn nạn về tiền bạc hay tình ái. Hãy tìm ở hướng Đông Bắc hoặc Tây Nam, trong vùng núi hay vùng song nước nào đó, có thể sẽ không tìm được người này.
Vật bị mất: Đã bị mất cắp hay thất lạc. Sẽ không tìm lại được.
Du lịch: Có thể xảy ra rắc rối trên đường. Tốt nhất không nên tiếp tục.
Kiện tụng và tranh chấp: Thất bại thảm hại hoặc nhục nhã.
Việc làm: Trong lúc này vô phương hy vọng.
Thi cử: Điểm khá thấp.
Kinh doanh mới, thay đổi nghề nghiệp, chuyên môn hay chỗ làm: Bất lợi. Không nên xúc tiến kế hoạch.
Thời tiết: Thời tiết liên tục xấu.
Phần 2. Luận giải theo ngôn ngữ hiện đại
1. Tên quẻ: Sơn Địa Bác
2. Ý nghĩa tổng quan: Quẻ Sơn Địa Bác biểu thị sự suy thoái, sụp đổ, hoặc bị bóc tách dần dần, giống như núi bị xói mòn từng lớp đất. Đây là thời điểm mọi thứ đang ở giai đoạn suy yếu, cần thận trọng, bảo toàn năng lượng và tránh hành động vội vàng. Quẻ khuyến khích sự kiên nhẫn, chờ đợi thời cơ để phục hồi, đồng thời nhắc nhở rằng sau sự suy tàn sẽ đến giai đoạn tái sinh.
3. Hình ảnh và biểu tượng:
– Hình tượng: “Khử cựu sinh tân” – Từ bỏ cái cũ để sinh điều mới.
– Tượng quẻ: “Quần âm bác tận” – Nghĩa là các hào âm dâng lên phá tan hào dương ở trên cùng. Đây là biểu tượng sự lấn át, suy vi, thoái hóa.
– Trong hình vẽ: Một người phụ nữ ngồi trầm mặc trong nhà, người đàn ông ở ngoài thất thần, cạnh đó là đôi giày cởi bỏ. Hình ảnh này gợi đến sự chia ly, đoạn tuyệt, và buông bỏ – phản ánh đúng tinh thần của quẻ: những điều từng gắn bó giờ đã đến lúc phải dứt ra để mở đường cho điều mới.
4. Luận giải từng hào:
– Hào 1: Đây là giai đoạn khởi điểm của sự tan rã. Tuy âm khí đã xuất hiện nhưng chưa đủ sức phá hoại toàn bộ. Nếu biết tỉnh thức sớm, có thể thu xếp lại trật tự, rút lui đúng lúc để bảo toàn cái cốt lõi.
– Hào 2: Giai đoạn này, các yếu tố tiêu cực bắt đầu lan rộng, xâm lấn những phần cốt lõi. Người quân tử nên ẩn nhẫn, thu mình, chớ tranh đoạt hay cố giành phần hơn.
– Hào 3: Đây là thời điểm nguy hiểm vì suy tàn không còn chỉ là bề mặt, mà đã xâm nhập vào phần cơ cấu bên trong. Người trí tuệ nên tuyệt đối tránh thị phi, chớ để mình bị cuốn vào tranh chấp hay mưu toan quyền lực.
– Hào 4: Hào này tượng trưng cho việc tiểu nhân đã cận kề trung tâm quyền lực, khiến cho chính đạo càng lúc càng mờ nhạt. Nếu không kiên định giữ lòng thanh sạch, dễ bị kéo theo đám đông sai lạc.
– Hào 5: Đây là thời kỳ đen tối nhất, khi người tài, chính nghĩa bị đè nén. Lục Ngũ là vị trí của minh quân, nhưng lại bị âm khí áp đảo hoàn toàn. Quẻ dạy: Chớ oán trời, trách người, hãy ẩn mình nuôi khí, đợi thời phục hưng.
– Hào 6: Ánh sáng le lói giữa đêm đen – dấu hiệu cho thấy: dù tất cả dường như đã mất, nhưng bản chất cốt lõi vẫn chưa diệt. Cửu Thượng là hào Dương duy nhất còn sót lại, báo hiệu: sau cùng sẽ có Phục tức là sự hồi sinh.
5. Ứng dụng quẻ Bác trong cuộc sống:
– Công danh, sự nghiệp: Thời kỳ không thuận lợi. Dù cố gắng, kết quả vẫn dễ bị phá hoại do ngoại cảnh hoặc tiểu nhân. Nên tạm thời rút lui để bảo toàn vị trí, tránh cạnh tranh trực diện, chờ thời cơ hồi phục sau này.
– Tài lộc: Không thích hợp để đầu tư lớn hoặc khởi sự. Dòng tiền có xu hướng rò rỉ, thất thoát, hoặc bị người khác lợi dụng. Tốt nhất nên giữ tiền, tránh cho vay hoặc chi tiêu vào những khoản không thật sự cần thiết.
– Tình duyên, gia đạo: Dễ xảy ra rạn nứt, lạnh nhạt, chia xa, đặc biệt nếu một trong hai người không còn đồng lòng. Đây là lúc cần xem xét lại mối quan hệ, buông bỏ những gì không còn phù hợp để mở ra hướng đi mới lành mạnh hơn.
– Sức khỏe: Báo hiệu suy giảm sinh lực, dễ mắc bệnh mạn tính hoặc bệnh do suy kiệt tinh thần. Cần nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng, không nên làm việc quá sức. Đặc biệt lưu ý các bệnh về xương khớp, hệ miễn dịch, và trầm cảm.
6. Lời khuyên: Quẻ Bác là lời cảnh tỉnh của Dịch học về sự suy tàn không thể tránh khỏi trong chu kỳ phát triển tự nhiên. Khi rơi vào thời kỳ thoái trào, điều quan trọng nhất không phải là chống cự một cách liều lĩnh, mà là biết dừng đúng lúc, giữ mình, chấp nhận đào thải những thứ đã lỗi thời, để tạo không gian cho cái mới sinh sôi. Đây là lúc rút lui để bảo tồn năng lượng, nuôi dưỡng đức và chờ thời vận chuyển dịch. Cũng giống như đông tàn mới có xuân tới, mọi kết thúc đều chứa mầm sống nếu biết thuận theo Đạo.
Phần 3. Luận giải theo ngôn ngữ của các bậc tiên nho
1. Quẻ Sơn Địa Bác trong Kinh Dịch
Tổng quan Quẻ Phục Hy Sơn Địa Bác
Quẻ Sơn Địa Bác hay được gọi là Quẻ Bác, là quẻ số 23 trong 64 Quẻ Kinh Dịch thuộc loại quẻ Hung.
Ngoại quái: ☶ Cấn (艮) – Sơn (山) tức Núi – Ngũ hành Thổ.
Nội quái: ☷ Khôn (坤) – Địa (地) tức Đất – Ngũ hành Thổ.
Thuộc nhóm tượng quái Càn, Ngũ hành Kim.
Thoán từ
Lời kinh: 剝不利有攸往.
Dịch âm: Bác bất lợi hữu du vãng
Dịch nghĩa: Tiêu mòn: Hễ tiến tới (hành động) thì không lợi.
Giải nghĩa: Quẻ bác là lúc các khí Âm lớn thịnh, tiêu gọt khí Dương, cũng tức là lúc những kẻ tiểu nhân gọt đẽo quân tử, cho nên đấng quân tử không lợi có thửa đi, chỉ nên nhún lời nói, giấu tung tích, tùy thời nghe ngóng, cho khỏi bị kẻ tiểu nhân làm hại.
Tượng quẻ
Lời kinh: 象⽈:⼭附#地,剝.君⼦以厚下安宅.
Dịch âm: Tượng viết: Sơn phụ ư địa, Bác, quân tử dĩ hậu hạ an trạch.
Dịch nghĩa: Lời Tượng nói rằng: Núi phụ ở đất, là quẻ Bác, người trên coi đó mà hậu cho kẻ dưới, làm yên chỗ ở.
Giải nghĩa: Quẻ Cấn chồng lên quẻ Khôn tức là núi phụ ở đất. Núi cao hơn đất mà lại đính bám vào đất, ấy là tượng quẻ Bác. Người trên, chỉ về ông vua và kẻ ở trên người ta, coi tượng quẻ Bác mà dầy bền cho kẻ dưới, để yên chỗ ở của họ. Dưới là gốc của trên, chưa có khi nào nền gốc đầy bền mà sụt lở được. Cho nên sụt phải từ dưới trước, dưới sụt thì trên nguy. Kẻ làm bề trên người ta biết lý như thế, thì nên yên nuôi nhân dân, để cho dầy cối gốc của mình, đó là để yên cái chỗ ở của mình vậy.
Các hào
1. Sơ Lục (Hào 1 âm):
Lời kinh: 初 六: 剝床以足, 蔑貞, 凶.
Dịch âm: Bác sàng dĩ túc, miệt trinh, hung.
Dịch nghĩa: Như cắt (phá hoại) chân giường, dần dần sẽ làm tiêu diệt đạo chính của người quân tử, xấu.
Giảng nghĩa: Âm (tiểu nhân) bắt đầu tiêu diệt dương (quân tử ), cũng như bắt đầu phá cái giường từ dưới chân trở lên.
2. Lục Nhị (Hào 2 âm):
Lời kinh: 六 二: 剝床以辨, 蔑貞, 凶.
Dịch âm: Bác sàng dĩ biện, miệt trinh, hung.
Dịch nghĩa: Như phá tới then giường (có người dịch là thành giường, hay sườn giường), tiêu diệt đạo chính của người quân tử, xấu.
Giảng nghĩa: Nghĩa hào này cũng như hào 1: bọn tiểu nhân đã tiến thêm một bước nữa, phá tới then giường rồi, chưa tới mặt giường.
3. Lục Tam (Hào 3 âm):
Lời kinh: 六 三: 剝之, 无咎.
Dịch âm: Bác chi, vô Cửu.
Dịch nghĩa: Phá bỏ bè đảng của mình, không có lỗi.
Giảng nghĩa: Hào này cũng là âm nhu, tiểu nhân, nhưng vì ứng với hào dương, quân tử, ở trên cùng, cho nên theo hào đó mà bỏ các hào âm ở trên và dưới nó (tức các hào 1, 2, 4) chịu mất lòng với các hào âm này (lời Tiểu tượng truyện) mà theo đạo chính, cho nên không có lỗi.
4. Lục Tứ (Hào 4 âm):
Lời kinh: 六 四: 剝床以膚, 凶.
Dịch âm: Bác sàng dĩ phu, hung.
Dịch nghĩa: Phá giường mà xẻo tới da thịt người nằm trên giường nữa, xấu.
Giảng nghĩa: Hào âm này đã lên tới ngoại quái, thế là tiểu nhân đã hoành hành, quân tử bị hại quá đau, tai họa bức thiết quá rồi; xấu.
5. Lục Ngũ (Hào 5 âm):
Lời kinh: 六 五: 貫魚, 以宮人寵, 无不利.
Dịch âm: Quán ngư, dĩ cung nhân sủng, vô bất lợi.
Dịch nghĩa: Dắt bầy cung nhân như một xâu cá (ám chỉ bầy tiểu nhân), để lên hầu vua (tức theo người quân tử, hào dương ở trên cùng), như vậy là tiểu nhân biết thuận tòng quân tử, không có gì là không lợi.
Giảng nghĩa: Hào này làm thủ lãnh bầy âm. Theo nghĩa mấy hào trên, chúng ta tưởng hào này càng phá mạnh hạng quân tử hơn nữa; nhưng ngược lại. Hào từ lấy lẽ rằng hào 5, ở sát hào dương ở trên cùng thân cận với 6, chịu ảnh hưởng tốt của 6, nên dắt cả bầy âm (ví như một xâu cá – cá thuộc loài âm) để theo hào 6 quân tử cũng như bà hậu dắt bầy cung phi lên hầu vua. Thế là theo đạo chính, cho nên không gì là không lợi.
Theo Phan Bội Châu, sở dĩ cổ nhân tới hào này bỏ cái nghĩa âm tiêu diệt dương, mà cho cái nghĩa âm thuận theo dương, là để khuyến khích tiểu nhân cải tà qui chánh, mà giúp đỡ quân tử. Kinh dịch “Vị quân tử mưu” (lo tính cho quân tử) là nghĩa đó. Có thể như vậy. Lý do chính thì coi hào sau ta sẽ thấy.
6. Thượng Cửu (Hào 6 dương):
Lời kinh: 上 九: 碩果不食, 君子得輿, 小人剝廬.
Dịch âm: Thạc quả bất thực, Quân tử đắc dư, tiểu nhân bác lư.
Dịch nghĩa: Còn một trái lớn trên cây, không hái xuống ăn (ý nói dương tức quân tử không bao giờ hết). Quân tử ở hào này được quần chúng (dư) theo; còn tiểu nhân thì biết rằng nếu diệt hết quân tử tức lá phá đổ nhà chúng ở (chúng cũng không còn).
Giảng nghĩa: Cả quẻ chỉ có mỗi hào này là dương cho nên ví với trái cây lớn còn lại trên cây, không hái xuống ăn thì có ngày nó sẽ rụng mà mọc mầm, như vậy là đạo quân tử không bao giờ hết. Hào 3 và 5 kéo các hào âm khác theo hào dương này, cho nên bảo là quân tử được dân chúng theo. Hào dương này ở trên cùng, cũng như cái nhà che cho tất cả các hào âm ở dưới. Nếu bọn tiểu nhân phá nhà đó cho sập – nghĩa bóng là không còn quân tử thì quốc gia suy vong, chủng tộc tiêu diệt- thì chúng cũng không sống được, không có chốn dung thân. Vậy ta thấy sở dĩ Chu Công, người viết Hào từ, cho hào 5 theo hào trên cùng (âm theo dương) là vì lẽ có thế xã hội mới tồn tại được, không khi nào người tốt bị diệt hết. Quẻ này nói về thời âm thịnh dương suy, tiểu nhân tàn hại quân tử, tiểu nhân tuy rất đông, nhưng vẫn có một số (hào 3 và 5) hiểu đạo cải quá, đứng về phe quân tử, và khi xã hội lâm nguy thì ủng hộ quân tử. Người quân tử mới đầu chỉ nên im hơi lặng tiếng mà chờ thời, chuẩn bị cho lúc thịnh trở lại. Đó là luật âm dương trong vũ trụ; vũ trụ luôn luôn có đủ cả âm, dương ; khi âm cực thịnh, vẫn còn dương, khi dương cực thịnh cũng vẫn còn âm, âm dương cứ thay nhau lên xuống, thế thôi.
2. Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Sơn Địa Bác trong chiêm bốc, đoán quẻ
Triệu và điềm của quẻ Bác
Quẻ Bác có triệu Ưng Thước Đồng Lâm – Việc không thành. Có bài thơ như sau:
Oanh thước đồng lâm, vốn chẳng hòa,
Quẻ này cho biết, việc không thông.
Làm ơn mang oán, đâu có biết,
Đất bằng nổi sóng, khó mà yên.
Dụng thần quẻ Bác
Quẻ Bác thiếu hào Huynh Đệ Nhâm Thân Kim, đây là Phục Thần ở Bính Tý Thủy là Phi Thần. Như vậy, Phục sinh Phi, Cho ta hình ảnh “người” núp sau lưng mình phải tiếp sức cho mình nên mất sức, kiệt lực.
