Ý nghĩa quẻ 33 – Thiên Sơn Độn trong Kinh dịch

Luận Giải Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Số 33 – Quẻ Thiên Sơn Độn

Quẻ Phục Hy Số 33 Thiên Sơn Độn
Quẻ Phục Hy Số 33 Thiên Sơn Độn

Phần 1: Luận đoán quẻ Độn trong cuộc sống

Ước muốn: Không thành công.

Hôn nhân: Không thể kết hôn với nhau được. Cho dù có lấy nhau rồi đi chăng nữa cũng chẳng đạt được sự tương hợp.

Tình yêu: Không hợp tính cách với nhau. Thêm nữa, người nữ có thể đang có lòng mơ tưởng đến người đàn ông khác.

Gia đạo: Gia cảnh có khuynh hướng sa sút và xui xẻo.

Con cái: Con cái bất hiếu. Thêm nữa, chúng bệnh tật và yếu ớt. Thai nghén: con trai.

Vay vốn: Không thành công.

Kinh doanh: Lỗ lã và thất bại. Tốt nhất hãy tạm thời ngưng lại.

Chứng khoán: Giá cả đang xuống.

Tuổi thọ: Yếu ớt và bệnh hoạn – đoản thọ. Phải chỉnh đốn cuộc sống của mình để bảo vệ sức khỏe.

Bệnh tật: Rất nghiêm trọng. Tốt nhất hãy đên nơi khác để bình phục. Những bệnh về ngực, bụng và tủy xương.

Chờ người: Sẽ không đến.

Tìm người: Người này bỏ đi vì chơi bời phóng đãng, thiếu tham vọng hay gia đình bất hòa. Họ đang ở xa và không thể tìm được.

Vật bị mất: Đã rơi vào tay người khác và sẽ không thu hồi lại được.

Du lịch: Nhiều trở ngại và khó khăn. Hãy cẩn thận để tránh tai họa. Trong một số trường hợp, đi xa là bất khả thi.

Kiện tụng và tranh chấp: Sẽ thất bại. Tốt nhất hãy bỏ cuộc.

Việc làm: Vô vọng.

Thi cử: Điểm rất thấp.

Kinh doanh mới, thay đổi nghề nghiệp, chuyên môn hay chỗ làm: Không phải lúc thích hợp, không thể thành công. Tuy nhiên, có thể tiến hành những bước tích cực trong kinh doanh giải trí – nhà hàng, khách sạn, quán rượu, cơ sở ăn uống,… 

Thời tiết: Trời xấu dần.

Phần 2. Luận giải theo ngôn ngữ hiện đại

1. Tên quẻ: Thiên Sơn Độn (Quẻ Phục Hy số 33)

2. Ý nghĩa tổng quan

Quẻ Thiên Sơn Độn tượng trưng cho sự rút lui, ẩn náu và né tránh. Trên là Trời (Thiên) – cao xa, dưới là Núi (Sơn) – chặn lại, tạo thành hình ảnh trời cao lánh xa chân núi. Quẻ này khuyên rằng khi gặp thế lực tiểu nhân quá mạnh, hoặc thời cuộc bất lợi, người quân tử nên biết thối lui, ẩn mình để bảo toàn lực lượng, chờ thời cơ tốt hơn. Độn không phải là chạy trốn hèn nhát, mà là một chiến lược khôn ngoan, một sự lựa chọn chủ động để giữ vững đạo lớn.

3. Hình ảnh và biểu tượng

Hình ảnh: “Thiên hạ hữu sơn” – Dưới trời có núi chắn. Trời (người quân tử) cao xa, núi (tiểu nhân hoặc trở ngại) chắn lối, nên cách tốt nhất là lánh xa.

Biểu tượng: “Độn, hanh, tiểu lợi trinh” – Việc rút lui là hanh thông, giữ sự chính bền thì có lợi nhỏ. Và “Cương đương nhi vị, nhi ứng hồ thiên” – Cương đang ở vị trí (mạnh) mà ứng hợp với trời. Biểu tượng của trí tuệ biết thời, biết thế, lấy nhu thắng cương, lấy lui làm tiến.

4. Luận giải từng hào

Hào Sơ Lục: Độn vĩ, lệ, vật dụng hữu du vãng – Rút lui ở đuôi (chậm trễ), nguy hiểm, chớ có nên đi đâu. Rút lui mà chần chừ, do dự, để đến cuối cùng mới chạy thì đã nguy hiểm. Lúc này tốt nhất là không nên hành động gì.

Hào Lục Nhị: Chấp chi dụng hoàng ngưu chi cách, mạc chi năng thắng – Giữ chặt nó (ý chí rút lui) bằng da trâu vàng (kiên định), không gì có thể thắng nổi. Cần phải có ý chí kiên quyết và sắt đá (như da trâu vàng bền chắc) để thực hiện việc rút lui, không để bất cứ điều gì lung lạc.

Hào Cửu Tam: Hệ độn, hữu tật lệ, súc thần thiếp, cát – Buộc ràng việc rút lui (vì vướng bận), có bệnh tật và nguy hiểm. Nuôi (giữ lại) tôi tớ và thiếp (những thứ nhỏ nhặt, hệ lụy), thì tốt. Khi rút lui mà còn vướng bận nhiều thứ (tật lệ, thần thiếp), sẽ nguy. Cần dứt khoát với những hệ lụy nhỏ để bảo toàn cái lớn.

Hào Cửu Tứ: Hảo độn, quân tử cát, tiểu nhân phủ – Rút lui một cách tốt đẹp, thuận lợi. Đối với người quân tử thì tốt, đối với kẻ tiểu nhân thì không được. Người quân tử biết rút lui đúng lúc, đúng cách là tốt. Kẻ tiểu nhân không hiểu đạo lý ấy, hoặc rút lui vì hèn nhát, nên không thể thành công.

Hào Cửu Ngũ: Gia độn, trinh cát – Rút lui một cách vẻ vang, tốt đẹp, giữ chính bền thì tốt. Ở vị trí tôn quý mà biết rút lui một cách đường hoàng, đàng hoàng, giữ được danh tiếng và đạo nghĩa, đó là điều rất tốt.

Hào Thượng Cửu: Phỉ độn, vô bất lợi – Rút lui một cách dứt khoát, phi thường, không gì là không lợi. Ở thời điểm cuối, việc rút lui phải được thực hiện một cách triệt để, nhanh chóng và dứt khoát. Làm được vậy thì mọi sự đều lợi.

5. Ứng dụng quẻ trong cuộc sống

Công danh, sự nghiệp: Gặp phải đối thủ mạnh, tiểu nhân cản trở, hoặc dự án có nhiều rủi ro. Chiến lược tốt nhất là tạm lùi, thu mình lại, củng cố nội lực, chờ thời cơ. Tránh đối đầu trực diện.

Tài lộc: Thị trường bất ổn, đầu tư dễ thua lỗ. Nên rút vốn về, giữ tiền mặt, không nên mạo hiểm. “Giữ được là thắng”.

Tình duyên, gia đạo: Mối quan hệ đang căng thẳng, xung đột. Đôi khi tạm lánh mặt, giữ khoảng cách để cả hai bình tĩnh lại là phương án khôn ngoan. “Một điều nhịn, chín điều lành”.

Sức khỏe: Cơ thể suy nhược, bệnh tật. Cần nghỉ ngơi tuyệt đối, tránh làm việc quá sức. “Dưỡng sinh tức là dưỡng thần”.

6. Lời khuyên

Quẻ Độn dạy ta nghệ thuật của sự rút lui khôn ngoan. Khi con đường phía trước bị chắn bởi núi đá, leo lên có thể gãy chân, thì việc tìm một lối đi vòng hoặc tạm dừng chân là hành động của người sáng suốt. Sự rút lui không phải là thất bại, mà là để bảo toàn sức mạnh, giữ vững lập trường và chờ đợi thời cơ thuận lợi hơn. Hãy như bậc quân tử, biết “tùng đắc khứ” – biết tiến biết thoái. Điều quan trọng là phải rút lui một cách chủ động, kịp thời và dứt khoát, đừng để đến khi nguy cấp mới chạy. Hãy nhớ: “Lui một bước để tiến hai bước”. Trong sự tĩnh lặng của núi rừng ẩn náu, bạn sẽ tìm thấy sự minh mẫn để nhìn ra hướng đi mới.

Phần 3. Luận giải theo ngôn ngữ của các bậc tiên nho

1. Quẻ Thiên Sơn Độn trong Kinh Dịch

Tổng quan Quẻ Phục Hy Thiên Sơn Độn

Quẻ Thiên Sơn Độn hay được gọi là Quẻ Độn, là quẻ số 33 trong 64 Quẻ Kinh Dịch thuộc loại quẻ Hung.

Ngoại quái: ☰ Càn (乾) – Thiên (天) tức Trời – Ngũ hành Kim.

Nội quái: ☶ Cấn (艮) – Sơn (山) tức Núi – Ngũ hành Thổ.

Thuộc nhóm tượng quái Càn, Ngũ hành Kim.

Thoán từ

Lời kinh: 遯亨, 小利貞.

Dịch âm: Độn hanh, tiểu lợi trinh.

Dịch nghĩa: Trốn lánh đi thì hanh thông; trong các việc nhỏ, giữ được điều chính thì có lợi.

Giải nghĩa: Độn là lui tránh, nó là quẻ hai khí Âm lớn dần, khí Dương nên lui tránh, cho nên là trốn, tức là quẻ thuộc về tháng sáu. Dương tuy nên lánh, nhưng hào Chín Năm ở vào chính vị, phía dưới có hào Sáu Hai ứng với, giống như còn có thể làm việc. Có điều hai khí Âm lớn dần ở dưới, thì thế của mình không thể không lánh, cho nên lời Chiêm của nó là: Đấng quân tử lánh được thì thân mình dù lui, đạo mình vẫn hanh, kẻ tiểu nhân thì lợi về sự giữ đường chính đính, không thể lấy cớ lớn dần mà lấn bách khí Dương. Chữ “nhỏ” là chỉ về bọn Âm nhu tiểu nhân. Lời Chiêm quẻ này với hai hào Đầu và Hai của quẻ Bĩ giống nhau.

Tượng quẻ

Lời kinh: 象⽈:天下有⼭,遯君⼦以遠⼩⼈,不惡⽽嚴. 

Dịch âm: Tượng viết: Thiên hạ hữu sơn, Độn; quân tử dĩ viễn tiểu nhân, bất ác nhi nghiêm.

Dịch nghĩa: Lời Tượng nói rằng: Dưới trời có núi, là quẻ Độn, đấng quân tử coi đó mà xa kẻ tiểu nhân, không ác mà nghiêm. 

Giải nghĩa: Dưới trời có núi, núi ở dưới nổi lên mà đậu, trời ở trên tiến lên mà lánh, ấy là cái tượng trốn lánh, đấng quân tử coi tượng đó mà lánh xa kẻ tiểu nhân. Cách xa kẻ tiểu nhân, nếu dùng tướng gắt, vẻ dữ, chỉ để làm cho nó oán, chỉ cần trang trọng uy nghiêm, khiến cho nó bỉết kinh sợ, tự nhiên phải xa. 

Các hào

1. Sơ Lục (Hào 1 âm):

Lời kinh: 初 六: 遯尾, 厲, 勿用有攸往.

Dịch âm: Độn vĩ, lệ, vật dụng hữu du vãng.

Dịch nghĩa: Trốn sau cùng, như cái đuôi, nguy đấy, đừng làm gì cả.

Giảng nghĩa: Hào ở dưới cùng, nên ví với cái đuôi ở lại sau cùng. Nó là âm, nhu nhược, hôn ám, không trốn theo kịp người, còn rù rờ ở sau, nên bảo là nguy.

2. Lục Nhị (Hào 2 âm):

Lời kinh: 六 二: 執之用黃牛之革, 莫之勝說.

Dịch âm: Chấp chi dụng hoàng ngưu chi cách, mạc chi thăng thoát.

Dịch nghĩa: Hai bên (hào 5 và hào 2) khăng khít (bền chặt) với nhau như buộc vào nhau bằng da bò vàng, không thể nào cởi được.

Giảng nghĩa: Hào 2 âm, đắc trung đắc chính, ứng với hào 5 dương cũng đắc trung đắc chính, cho nên tương đắc, khắng khít với nhau, không thể rời nhau được, 2 không thể bỏ 5 mà trốn được.
Màu vàng (da bò vàng) là màu trung, ám chỉ hai hào đó đều đắc trung.

3. Cửu Tam (Hào 3 dương):

Lời kinh: 九 三: 係遯, 有疾厲, 畜臣妾, 吉.

Dịch âm: Hệ độn, hữu tật lệ, súc thần thiếp, cát.

Dịch nghĩa: Lúc phải trốn mà bịn rịn tư tình thì nguy; nhưng nuôi kẻ tôi tớ trai gái thì tốt.

Giảng nghĩa: Hào dương này ở gần hào 2 âm, có vẻ bịn rịn tư tình với hào đó, không thể trốn mau được, như bị bệnh mà nguy; có tư tình đó thì không làm được việc lớn, chỉ nuôi bọn tôi tớ trai gái mình tốt với họ thì họ vui lòng mà dễ sai khiến, được việc cho mình.
Bốn chữ “súc thần thiếp, cát” tôi hiểu theo Phan Bội Châu; Chu Hi giảng rất mù mờ, lúng túng; J. Legge giảng là: nếu 3 đổi hào 2, như nuôi tôi tớ trai gái thì tốt. R. Wilhem giảng là 3 vẫn giữ được sự tự quyết, đừng để cho hào 2 sai khiến mình thì tốt.

4. Cửu Tứ (Hào 4 dương):

Lời kinh: 九 四: 好遯, 君子吉, 小人否.

Dịch âm: Hiếu độn, quân tử cát, tiểu nhân phủ.

Dịch nghĩa: Có hệ lụy với người, nhưng trốn được, quân tử thì tốt, tiểu nhân thì không.

Giảng nghĩa: Hào này cũng tối nghĩa; chữ 好 có người đọc là hảo , chữ 否 có người đọc là bĩ, vì vậy có nhiều cách hiểu, với hào 1 âm nhu, có tình thân thiết (hệ lụy) với nhau; nhưng 4 là quân tử, 1 là tiểu nhân , 4 cắt được tư tình mà trốn đi, theo lệ phải (chính nghĩa); chỉ hạng quân tử mới làm vậy được, tiểu nhân thì không.

5. Cửu Ngũ (Hào 5 dương):

Lời kinh: 九 五: 嘉遯, 貞吉.

Dịch âm: Gia độn, trinh cát.

Dịch nghĩa: Trốn mà theo điều chính cho nên tốt.

Giảng nghĩa: Hà 5, dương có đức trung chính, ứng với hào 2 cũng trung chính, ở thời Độn, cả 2 hào trung chính dắt nhau trốn bọn tiểu nhân, giữ được điều chính, cho nên tốt.

6. Thượng Cửu (Hào 6 dương):

Lời kinh: 上 九: 肥遯, 无不利.

Dịch âm: Phi độn, vô bất lợi.

Dịch nghĩa: Trốn mà ung dung, đàng hoàng, không có gì là không lợi.

Giảng nghĩa: Vào lúc cuối thời Độn, càng trốn được xa càng được tự do. Hào này dương cương quân tử, không bịn rịn với hào nào cả (vì hào 3 cũng là dương), có thể ung dung, đàng hoàng trốn được, không nghi ngại gì cả.

2. Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Thiên Sơn Độn trong chiêm bốc, đoán quẻ

Triệu và điềm của quẻ Độn

Quẻ Độn có triệu Nùng Vân Tế Nhật – Mưu sự bất thành. Có bài thơ như sau:

Mây đen kéo tới, trời tối om

Khuyên bạn chớ nên vội xuất hành.

Hôn nhân cầu tài, đều bất lợi,

Đề phòng cãi cọ, mất anh em.

Dụng thần quẻ Độn

Quẻ Độn so với Càn thiếu hai thân là Thê Tài và Tử Tôn. Hào Phục Thần Giáp Dần Mộc ở nhị hào Bính Ngọ là Phi Thần Hỏa. Mộc sinh Hỏa nên Phục Thần sinh Phi Thần, Phục Thần bị hao khí. Nếu coi về tài lộc thì tiển bạc bị kém, hao phí, phải tốn về việc quan. Coi về gia đình: vợ bị bệnh, đau yếu. Độn so với Càn thiếu Tử Tôn Giáp Tý Thủy, phục ở hào sơ Bính Thìn (Phụ Mẫu Mộc) là Phi Thần. Theo quy luật của vòng trường sinh, hào lâm Tý (Thủy), trường sinh tại Thân, từ đây tính đi (theo vòng: Trường sinh -> Mộc Dục Quan Đới -> Lâm Quan -> Đế vượng -> Suy – Bệnh -> Tử Mộ -> Tuyệt -> Thai Dưỡng…) thì Trường Đoạn Thần Giáp Thìn dừng ở Mộ, có nghĩa là Phục Thần chuyển động đến Phi Thần (Thìn) thì nhập mộ, đã nhập mộ Phục Thần không xuất hiện được. Nếu có dữ kiện xung phá mộ, tức đến ngày có hành Thổ khắc Thủy thì Phục Thần mối xuất hiện. Có 4 ngày có tiêu chuẩn như thế là: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Song phải trùng với cả tháng (tháng: Thin, Tuất, Sửu, Mùi). Khi phục Thần xuất hiện, mọi thông tin phản ánh qua dự báo (tốt, xấu, lành, dữ) liên quan với nó mới thể hiện rõ.