Luận Giải Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Số 41 – Quẻ Sơn Trạch Tổn

Phần 1. Luận đoán quẻ Tổn trong cuộc sống
Ước muốn: Trong hiện tại, không thể thành công. Hãy nỗ lực chăm chỉ bằng sự tập trung và thành công sẽ đến sau đó.
Hôn nhân: Hôn nhân hòa hợp, mỹ mãn. Người nam nếu được ở rể hoặc hai vợ chồng được sống chung trong gia đình vợ là cát tường.
Tình yêu: Thành thật và thủy chung sẽ mang lại hạnh phúc.
Gia đạo: Gia nghiệp đang hồi suy vi, nhưng có thể khôi phục bằng sự làm việc chăm chỉ, siêng năng. Cuối cùng, có thể đạt được hạnh phúc.
Con cái: Bạn sẽ gây khổ cho chúng. Nhưng chúng thật sự thành thật và có hiếu và về sau sẽ mang lại hạnh phúc cũng như thịnh vượng. Thai nghén: con gái.
Vay vốn: Khó thành trong lúc này.
Kinh doanh: Thua lỗ.
Chứng khoán: Giá đang giảm.
Tuổi thọ: Yếu ớt và bệnh tật, nhưng nếu sống có nề nếp, có chế độ dinh dưỡng hợp lý, bạn có thể sống một cuộc sống khỏe mạnh và trường thọ.
Bệnh tật: Nghiêm trọng, nhưng có thể bình phục nhờ tịnh dưỡng. Bệnh thiếu máu, các bệnh liên quan đến các cơ quan tiêu hóa, nói chung yếu đuối, dễ bệnh hoạn.
Chờ người: Sẽ đến, nhưng trễ.
Tìm người: Sẽ phải tốn khá nhiều thời gian, nhưng người này sẽ tự động trở về, hoặc sẽ biết được nơi người này thường lui tới. Hãy tìm ở hướng Đông Bắc hoặc hướng Tây.
Vật bị mất: Không dễ gì tìm được, hoặc có thể chẳng thể nào thu hồi lại được. Hãy tìm ở hướng Đông Bắc hoặc hướng Tây.
Du lịch: Sẽ bình an nếu cực kỳ cẩn thận.
Kiện tụng và tranh chấp: Bất lợi. Tốt nhất là hãy tìm cách hòa giải.
Việc làm: Trong lúc này, không thành công, nhưng về sau có thể tìm được việc.
Thi cử: Điểm kém.
Kinh doanh mới, thay đổi nghề nghiệp, chuyên môn hay chỗ làm: Lúc đầu, công việc sẽ không thuận lợi, nhưng sau một thời gian bạn sẽ gặt hái được lợi ích.
Thời tiết: Trời nhiều mây, thỉnh thoảng có mưa.
Phần 2. Luận giải theo ngôn ngữ hiện đại
1. Tên quẻ: Sơn Trạch Tổn
2. Ý nghĩa tổng quan
Quẻ Sơn Trạch Tổn tượng trưng cho sự tổn hại, giảm bớt và hy sinh. Trên là Núi (Sơn) – cao, cứng; dưới là Đầm (Trạch) – thấp, mềm, thể hiện sự lấy dưới bù cho trên, lấy thấp bù cho cao. Quẻ này biểu thị thời kỳ cần phải có sự cắt giảm, hy sinh cái riêng tư, nhỏ mọn (đầm) để bồi đắp, làm lợi cho cái lớn lao, chung (núi). Đó là đạo lý “tổn hạ ích thượng” (tổn dưới ích trên), mang ý nghĩa hy sinh vì lợi ích lớn, nhưng cũng cảnh báo về sự hao tổn không cần thiết.
3. Hình ảnh và biểu tượng
Hình ảnh: “Sơn hạ hữu trạch” – Dưới núi có đầm. Đầm nước bốc hơi làm núi thêm tươi tốt, nhưng đầm tự hao hụt.
Biểu tượng: Tổn hạ ích thượng, kỳ đạo thượng hành – Tổn dưới để ích trên, đạo ấy đang thịnh hành. Và Tổn dĩ viên, nguy giả phi viên – Tổn để làm tròn, nguy mà không phải là nguy. Biểu tượng của sự hy sinh có chủ đích, lấy ít đổi nhiều, lấy tư lợi đổi lấy công ích.
4. Luận giải từng hào
Hào Sơ Cửu: Sĩ sự duyên vãng, vô cửu, khả tổn ích chi – Làm việc nhanh chóng đi đi, không lỗi, có thể tổn mình để làm lợi cho người. Khi mới bắt đầu, cần nhanh chóng hành động, sẵn sàng hy sinh lợi ích nhỏ của bản thân để giúp đỡ người khác hoặc hoàn thành việc lớn. Đó là điều nên làm.
Hào Cửu Nhị: Lợi trinh, chinh hung, phất tổn ích chi – Giữ chính bền thì có lợi, tiến lên thì xấu. Không nên tổn mình để làm lợi cho người khác (trong trường hợp này). Cần phân biệt rõ: khi nào nên hy sinh, khi nào không. Ở thời điểm này, giữ vững lập trường chính đáng của mình mới là có lợi, nếu cố hy sinh sẽ mang họa.
Hào Lục Tam: Tam nhân hành tắc tổn nhất nhân, nhất nhân hành tắc đắc kỳ hữu – Ba người cùng đi thì tổn mất một người, một người đi thì được bạn. Đám đông (tam nhân) dễ dẫn đến mâu thuẫn, tổn hại (tổn nhất nhân). Đôi khi hành động một mình hoặc với một người bạn chí cốt lại dễ đạt được mục đích hơn. Cần biết chọn lựa bạn đồng hành.
Hào Lục Tứ: Tổn kỳ tật, sử duyệt hữu hỉ, vô cửu – Giảm bớt bệnh tật của mình, khiến cho việc vội vàng cũng trở nên vui vẻ, không lỗi. “Tật” ở đây có thể là thói quen xấu, tật xấu. Biết tự sửa chữa, giảm bớt khuyết điểm của bản thân (tổn kỳ tật) thì dù có phải vội vã (sử duyệt) cũng thấy vui, không có gì sai.
Hào Lục Ngũ: Hoặc ích chi thập bằng chi quy, phất khắc vi, nguyên cát – Có người tặng cho mười cặp rùa quý (của cải lớn), không thể từ chối, rất tốt lành. Ở vị trí tôn quý, nhận được sự ủng hộ, hiến tặng lớn từ dưới (tổn hạ ích thượng) một cách chân thành. Đây là phúc lớn, nên đón nhận.
Hào Thượng Cửu: Phất tổn ích chi, vô cửu, trinh cát, lợi hữu du vãng, đắc thần vô gia – Không tổn ai mà làm lợi cho người, không lỗi, giữ chính bền thì tốt, có lợi cho việc tiến lên, được kẻ dưới (thần) mà không có nhà (không giới hạn). Đây là cảnh giới cao nhất: làm lợi cho người khác mà không khiến ai bị tổn hại (phất tổn ích chi). Được lòng người một cách rộng rãi, không bị giới hạn bởi phe nhóm. Rất tốt để phát triển.
5. Ứng dụng quẻ trong cuộc sống
Công danh, sự nghiệp: Có thể phải hy sinh lợi ích cá nhân (thời gian, công sức) để hoàn thành nhiệm vụ chung, hoặc để thăng tiến. Cần biết đầu tư đúng chỗ. Đôi khi “cho đi” là cách để “nhận lại”.
Tài lộc: Cần tiết kiệm, cắt giảm chi tiêu không cần thiết. Có thể phải bỏ vốn ra đầu tư (tổn) để mong thu lợi (ích) lớn hơn sau này. Tránh hao tổn vô ích.
Tình duyên, gia đạo: Trong mối quan hệ, đôi bên cần biết nhường nhịn, hy sinh cho nhau. Sự hy sinh chân thành sẽ làm tình cảm thêm sâu sắc. Nhưng tránh hy sinh một chiều.
Sức khỏe: Có thể cần phẫu thuật (tổn) để loại bỏ bệnh tật (ích). Giảm bớt những thói quen có hại (rượu bia, thức khuya) để cơ thể khỏe mạnh hơn.
6. Lời khuyên
Quẻ Tổn dạy ta về giá trị của sự hy sinh và cho đi có chủ đích. Như đầm nước hao hơi để nuôi cây trên núi, đôi khi chúng ta cần biết giảm bớt cái “tôi”, lợi ích nhỏ để đạt được mục tiêu lớn, hoặc để giúp đỡ người khác. Tuy nhiên, sự hy sinh phải có ý nghĩa, không phải là sự hao tổn vô ích hay ngu xuẩn. Hãy “tổn” một cách khôn ngoan: tổn những thói hư tật xấu, tổn lòng tham, tổn sự ích kỷ. Và hãy hướng tới cảnh giới cao nhất: làm lợi cho người mà không làm hại ai (phất tổn ích chi). Hãy nhớ, “tứ hải chi nội giai huynh đệ” – trong bốn bể đều là anh em, sự cho đi đúng lúc sẽ khiến vòng tròn nhân duyên của bạn ngày càng rộng mở.
Phần 3. Luận giải theo ngôn ngữ của các bậc tiên nho
1. Quẻ Sơn Trạch Tổn trong Kinh Dịch
Tổng quan Quẻ Phục Hy Sơn Trạch Tổn
Quẻ Sơn Trạch Tổn hay được gọi là Quẻ Tổn, là quẻ số 41 trong 64 Quẻ Kinh Dịch thuộc loại quẻ Bình Hòa.
Ngoại quái: ☶ Cấn (艮) – Sơn (山) tức Núi – Ngũ hành Thổ.
Nội quái: ☱ Đoài (兌) – Trạch (澤) tức Đầm – Ngũ hành Kim.
Thuộc nhóm tượng quái Cấn, Ngũ hành Thổ.
Quẻ Tổn trong giao tiếp lấy khéo kéo làm cái cốt, không xem trọng thực thà. Trong công việc nên biết hy sinh cái lợi trước mắt để giữ bền cái lợi lâu dài. Khả năng chịu tổn cao, nếu bất chính còn dẫn tới chỗ nguy vong.
Thoán từ
Lời kinh: 損有孚, 元吉, 无咎, 可貞, 利有攸往.
Dịch âm: Tốn hữu phu, nguyên cát, vô cữu, khả trinh, lợi hữu du vãng.
Dịch nghĩa: Quẻ Tổn, có tin, cả tốt, không lỗi, khá trinh, lợi có thửa đi.
Giải nghĩa: Tổn là giảm bớt, phàm việc nén bớt sự thái quá, để tới nghĩa lý, đều là đạo “bớt” vậy. Đạo “bớt” ắt có thành tín, nghĩa là chí thành thuận lý vậy. Bớt mà thuận lý thì cả thiện mà tốt. Cái đã bớt mà không quá sai, thì có thể chính bền, thường làm mà lợi có thửa đi vậy. Sự bớt của người ta hoặc thái quá hoặc bất cập, hoặc bất thường, đều không hợp chính lý, không phải có tin, thì không tốt mà có lỗi, không phải cái đạo có thể chính bền, thì không nên làm.
Tượng quẻ
Lời kinh: 象⽈:善下有澤,損.君⼦以懲忿窒欲.
Dịch âm: Tượng viết: Sơn hạ hữa trạch, Tổn, quân tử dĩ trừng phẫn, chất dục.
Dịch nghĩa: Lời Tượng nói rằng: Dưới núi có chằm, là quẻ Tổn đấng quân tử coi đó mà răn sự giận, lấp lòng dục.
Giải nghĩa: Dưới núi có chằm, khí nó thông lên, và thấm lên, và đào chỗ thấp để làm cho tăng bề cao, đều là Tượng “bớt của kẻ dưới”. Đấng quân tử xem Tượng “sự bớt” đó mà tự mình bớt đi. Trong đạo sửa mình, cái nên bớt chỉ là sự tức giận và lòng tham muốn, cho nên mình phải lấy đức mà răn sự giận, lấp hết ý muốn của mình.
Các hào
1. Sơ Cửu (Hào 1 dương):
Lời kinh: 初 九: 已事遄往, 无咎, 酌損之.
Dịch âm: Dĩ sự thuyên vãng, vô Cửu, chước tổn chi.
Dịch nghĩa: Nghỉ việc của mình mà tiến lên gấp, giúp (cho hào 4) như vậy thì không có lỗi, nhưng nên châm chước cái gì nên rút bớt của mình để giúp cho 4 thì hãy rút.
Giảng nghĩa: Hào 1 dương cương, ứng với hào 4 âm nhu ở trên, theo nghĩa thì nên giúp ích cho 4, nhưng cũng dừng nên để thiệt hại cho mình quá; như vậy là cũng hợp chí với người trên ở thời Tổn (rút bớt).
2. Cửu Nhị (Hào 2 dương):
Lời kinh: 九 二: 利貞, 征凶, 弗損益之.
Dịch âm: Lợi trinh, chính hung, phất tổn ích chi.
Dịch nghĩa: Giữ đạo chính thì lợi, nếu vội tiến ngay (bỏ đức cương trung của mình), để chiều bạn thì xấu; đừng làm tổn hại đức của mình cũng là ích cho bạn đấy.
Giảng nghĩa: Quẻ này có nghĩa tổn dương cương (quẻ Càn ở dưới) để làm ích cho âm nhu (quẻ Khôn ở trên); cho nên hào này là dương cương, nên giúp ích cho hào 5 âm nhu, cũng như hào 1 giúp ích cho hào 4. Nhưng hào 5 bất chính (âm mà ở vị dương), hay đòi hỏi những điều bất chính, nếu hào 2 bỏ đức cương và trung của mình đi mà vội vàng chiều lòng 5 thì sẽ xấu; phải giữ đức cương trung đó mới lợi (lợi trinh). Không làm tổn hại đức cương trung của mình, cũng là một cách khuyên hào 5 phải bỏ tính bất chính đi, như vậy là giúp ích cho 5 đấy.
3. Lục Tam (Hào 3 âm):
Lời kinh: 六 三: 三人行則損一人, 一人行則得其友.
Dịch âm: Tam nhân hành tắc tổn nhất nhân, nhất nhân hành tắc đắc kì hữu.
Dịch nghĩa: Ba người đi thì bớt một người, một người đi thì được thêm bạn.
Giảng nghĩa: Theo tượng của quẻ, nội quái Càn có ba hào dương bớt đi một để đưa lên trên; ngoại quái Khôn có ba hào âm, bớt đi một để đưa xuống dưới, thành quẻ trùng tổn. Hào 3 dương đi lên, hào trên cùng âm xuống dưới, tương đắc với nhau, thế là tuy tách ra, đi một mình mà hoá ra có bạn.
Xét trong vũ trụ thì một dương một âm là đủ, nếu thêm một âm hay một dương nữa, thành ba thì thừa; mà nếu chỉ có một âm hay một dương thì thiếu, phải thêm một dương hay một nữa mới đủ.
Việc người cũng vậy, hai người thành một cặp, thêm một người thì dễ sinh chuyện, mà nếu chỉ có một người thôi thì lẻ loi quá, phải kiếm thêm bạn (coi Hệ từ hạ truyện, Ch. V số 13).
4. Lục Tứ (Hào 4 âm):
Lời kinh: 六 四: 損其疾, 使遄, 有喜, 无咎.
Dịch âm: Tổn kì tật, sử thuyên, hữu hỉ, vô Cửu.
Dịch nghĩa: Làm bớt cái tật (âm nhu) của mình cho mau hết, đáng mừng, không có lỗi.
Giảng nghĩa: Hào này có tật âm nhu, được hào 1 dương cương sửa tật đó cho mau hết, tốt.
5. Lục Ngũ (Hào 5 âm):
Lời kinh: 六 五: 或益之十朋之龜, 弗克違, 元吉.
Dịch âm: Hoặc ích chi thập bằng chi quí, phất khắc vi, nguyên cát.
Dịch nghĩa: Thình lình có người làm ích cho mình, một con rùa lớn đáng giá mười “bằng”, không từ chối được, rất tốt.
Giảng nghĩa: Hào này ở vị tối cao, nhu mà đắc trung, được hào 2 dương tận tình giúp ích cho, như cho mình một con rùa rất lớn. Sở dĩ vậy là vì hào này, đắc trung mà hiền (nhu) nên được lòng người, cũng như được trời giúp cho vậy (tự thượng hữu chí – lời Tiểu tượng truyện).
Chữ “bằng” mỗi nhà hiểu một cách: có người cho hai con rùa là một bằng; có người cho mười bằng là chu vị lớn tới 2.160 thước, có người bảo mỗi bằng là 10 “bối” [貝] (vỏ sò, ngao quí, hồi xưa dùng làm tiền, khi chưa có lụa, đồng) 10 hằng tức là 100 bối. Không biết thuyết nào đúng. Chúng ta chỉ nên hiểu con rùa 10 bằng là một vật rất quí thôi.
6. Thượng Cửu (Hào 6 dương):
Lời kinh: 上 九: 弗損益之, 无咎.貞吉.利有攸往, 得臣无家.
Dịch âm: Phất tổn ích chi, trinh cát. Lợi hữu du vãng, đắc thần vô gia.
Dịch nghĩa: Làm ích cho người mà chẳng tổn gì của mình, không lỗi, chính đáng thì tốt, làm việc gì cũng vô lợi, vì được người quy phu, chẳng phải chi nhà mình mới là nhà (ý nói đâu cũng là nhà mình, ai cũng là người nhà mình)
Giảng nghĩa: Hào này tối nghĩa, mỗi sách giảng một khác, chúng tôi châm chước theo Phan Bội Châu. Dương cương ở trên cùng quẻ tổn, nên đem cái cương của mình giúp cho nhiều hào âm nhu, chính đáng như vậy thì tốt, mà chẳng hại gì cho mình, vì mọi người sẽ quý mến, qui phụ mình. Có người hiểu là đừng làm hại, mà làm ích cho người thì tốt. Lẽ ấy dĩ nhiên rồi.
2. Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Sơn Trạch Tổn trong chiêm bốc, đoán quẻ
Triệu và điềm của quẻ Tổn
Quẻ Tổn có triệu Thôi Xa Phí Lực – Uổng phí công sức. Có bài thơ như sau:
Thời vận chưa đến, vẫn cứ làm,
Đẩy xe rơi chốt, thật uổng công.
Đường núi quanh co, tìm không thấy,
Xoay xở ngược xuôi, vẫn chẳng thành.
Dụng thần quẻ Tổn
Quẻ Tổn so với quẻ Cấn, thiếu Tử Tôn Bính Thân Kim ở hào tam, vậy đây là Phục Thần của Tổn ở hào tam Đinh Sửu: Huynh Đệ thuộc Thổ là Phi Thần. Thổ sinh Kim, nghĩa là Phi sinh Phục. Ớ quẻ này, Phục Thần Kim nhập mộ tại Sửu (xem vòng trường sinh đầu sách) nên gọi là: “Phục Thần Nhập mộ tại Sửu”. Phục thần nhập mộ tức là “chết” là bị hoại.
