Ý nghĩa quẻ 43 – Trạch Thiên Quải trong Kinh dịch

Luận Giải Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Số 43 – Quẻ Trạch Thiên Quải 

Quẻ Phục Hy Số 43 Trạch Thiên Quải
Quẻ Phục Hy Số 43 Trạch Thiên Quải

Phần 1. Luận đoán quẻ Quải trong cuộc sống

Ước muốn: Ảnh hưởng của tình cảm có thể gây nên thất bại. Nhưng có thể thành công nếu biết cần thận.

Hôn nhân: Không phải cuộc hôn nhân mỹ mãn và không thể thành công. Dù đã lấy nhau, cũng sẽ có sự chia tay về sau.

Tình yêu: Đơn phương. Một bên đang quá cố sức. Hãy lùi một bước và ngưng lại đôi chút để tự kiểm thảo. Hấp tấp và quá nhiệt thành sẽ chẳng ích lợi gì. Thất bại là một khả năng rõ rệt.

Gia đạo: Hiện tại, gia nghiệp thật sung thịnh. Nhưng có khả năng gặp sa sút về sau.

Con cái: Nhiều con trai hơn con gái. Lúc đầu may mắn, nhưng về sau thì bất hạnh. Thai nghén: con trai, có thể sinh khó.

Vay vốn: Rất khó thành công.

Kinh doanh: Có thể thất bại và lỗ lã.

Chứng khoán: Giá đang cao nhưng sẽ giảm xuống bất thình lình sau đó.

Tuổi thọ: Về cơ bản là khỏe mạnh, nhưng có thể gặp phải sự không may bởi chăm sóc cơ thể thiếu thỏa đáng hay do một tai họa bất ngờ nào đó.

Bệnh tật: Ngặt nghèo và nguy hiểm, nhưng bởi về cơ bản nhờ thể chất khỏe mạnh nên có thể bình phục nhờ một cuộc giải phẫu hay cách điều trị đặc biệt nào đó. Những bệnh liên quan đến đầu và vùng thận. Chứng viêm phúc mạc hay các khối u ác tính.

Chờ người: Sẽ không đến.

Tìm người: Ở xa, không biết được những nơi thường lui tới của người đó. Người này thậm chí có thể đang gặp nguy hiểm. Phải tìm kiếm nhanh và khẩn cấp, gần vùng có nước nào đó ở phía Tây hay Tây Bắc.

Vật bị mất: Mất ở ngoài đường, không thể tìm được.

Du lịch: Rủi ro và trở ngại trên đường. Hãy suy tính lại kế hoạch của mình.

Kiện tụng và tranh chấp: Có thể thất bại, tốt nhất hãy bỏ cuộc.

Việc làm: Khó khăn.

Thi cử: Điểm rất kém.

Kinh doanh mới, thay đổi nghề nghiệp, chuyên môn hay chỗ làm: Không thuận.

Thời tiết: Trời mưa.

Phần 2. Luận giải theo ngôn ngữ hiện đại

1. Tên quẻ: Trạch Thiên Quải

2. Ý nghĩa tổng quan

Quẻ Trạch Thiên Quải tượng trưng cho sự quyết đoán, cắt đứt và quyết định dứt khoát. Trên là Đầm (Trạch) – hòa duyệt, dưới là Trời (Thiên) – cương kiện, tạo thế dương khí (5 hào dương) lấn át âm khí cuối cùng (1 hào âm trên cùng). “Quải” nghĩa là quyết đoán, phân cách. Quẻ này biểu thị thời điểm cần phải có hành động mạnh mẽ, dứt khoát để trừ khử tiểu nhân (hào âm trên cùng), hoặc để giải quyết dứt điểm một vấn đề tồn đọng. Đây là quẻ của sự công khai, minh bạch và sức mạnh của lẽ phải.

3. Hình ảnh và biểu tượng

Hình ảnh: Trạch thượng vu thiên – Đầm nước bốc hơi lên tận trời, sắp thành mưa. Ám chỉ việc công khai, đưa sự việc ra ánh sáng.

Biểu tượng: Quải, quyết dã, cương quyết nhu – Quải là quyết đoán, lấy cương (cứng) để quyết đoán với nhu (mềm). Và Cao cáo vu vương đình, phất lợi tức nhung – Công khai tố cáo ở triều đình vua, bất lợi nếu dùng vũ lực. Biểu tượng của việc dùng đạo lý và sự công khai để chiến thắng, không nên dùng vũ lực.

4. Luận giải từng hào

Hào Sơ Cửu: Tráng vu tiền chỉ, vãng bất thắng, vi cửu – Mạnh ở ngón chân trước, tiến lên không thắng nổi, có lỗi. Mới bắt đầu đã tỏ ra hùng hổ, nóng vội muốn quyết đoán (tráng vu tiền chỉ), nhưng lực chưa đủ thì sẽ thất bại và mắc lỗi.

Hào Cửu Nhị: Đề cảnh, mộ dạ hữu nhung, vật tuất – Cảnh giác, đề phòng, đêm khuya có biến (có quân địch), đừng lo. Cần luôn giữ thế cảnh giác cao độ, dù kẻ địch (hoặc nguy cơ) có thể ập đến bất cứ lúc nào (mộ dạ). Nếu đã chuẩn bị sẵn sàng thì không cần lo lắng.

Hào Cửu Tam: Tráng vu khuông, hữu hung, quân tử quải quải, độc hành ngộ vũ nhược thấp, hữu uẩn – Mạnh ở gò má (tỏ vẻ giận dữ), có hiểm. Người quân tử quyết đoán một mình, đi một mình gặp mưa ướt đẫm, trong lòng có nỗi bực bội. Hào dương ở vị trí cương quá, dễ nóng nảy, bộc lộ sự giận dữ ra nét mặt (tráng vu khuông), điều đó nguy hiểm. Người quân tử quyết tâm hành động, nhưng cảm thấy cô đơn (độc hành) và gặp trở ngại (vũ thấp), trong lòng khó chịu (hữu uẩn).

Hào Cửu Tứ: Đồn vô phu, kỳ hành từ thứ, dương thỉ, hối vong – Bắp đùi không da (tổn thương, yếu), đi đứng khó khăn. Dắt theo con dê (kẻ nhu nhược, đầu mối), hối hận tiêu tan. Bản thân có chỗ yếu (đồn vô phu), hành động khó khăn. Nhưng nếu biết nắm lấy, dẫn dắt đúng đối tượng then chốt (dương thỉ – con dê, ám chỉ hào âm trên cùng), thì có thể giải quyết được vấn đề, hối hận sẽ hết.

Hào Cửu Ngũ: Tiên lục quải quải, trung hành vô cửu – Cỏ tiên lục (một loại cỏ quý) mọc sum suê (hình ảnh của sự công khai, rõ ràng). Giữ đạo trung mà hành động thì không có lỗi. Ở vị trí tôn quý, cần dùng sự minh bạch, rõ ràng (như cỏ mọc rậm ai cũng thấy) để xử lý vấn đề. Hành động theo lẽ trung đạo sẽ không sai.

Hào Thượng Lục: Vô hào, chung hữu hung – Không có tiếng kêu (bị cô lập, không có tiếng nói), cuối cùng sẽ có hung. Hào âm tiểu nhân ở trên cùng, bị năm hào dương bao vây, cô lập, không còn tiếng nói, không còn ảnh hưởng. Đó là kết cục tất yếu cho kẻ tiểu nhân khi lẽ phải lên ngôi. Tuy nhiên, vẫn cần cảnh giác vì nó vẫn có thể gây họa (hung) trong tuyệt vọng.

5. Ứng dụng quẻ trong cuộc sống

Công danh, sự nghiệp: Cần có quyết định mạnh mẽ, dứt khoát để loại bỏ nhân tố tiêu cực, cắt đứt hợp đồng xấu, hoặc công khai một vấn đề để giải quyết. Tránh do dự. Có thể phải đối mặt với tranh chấp.

Tài lộc: Cần quyết đoán trong việc cắt lỗ, chấm dứt các khoản đầu tư thua lỗ. Có thể có tranh chấp tài chính cần giải quyết triệt để. Minh bạch trong kế toán.

Tình duyên, gia đạo: Cần có cuộc nói chuyện dứt khoát để chấm dứt mối quan hệ độc hại, hoặc giải quyết mâu thuẫn lâu năm trong gia đình. Tránh để tình trạng kéo dài.

Sức khỏe: Cần quyết định phẫu thuật (quyết đoán cắt bỏ) để trị bệnh dứt điểm. Bệnh tình cần được chẩn đoán và xử lý một cách rõ ràng, mạnh mẽ.

6. Lời khuyên

Quẻ Quải dạy ta về sức mạnh của sự quyết đoán và minh bạch. Khi tiểu nhân hay vấn đề xấu đã lộ rõ, đừng do dự hay bao che. Hãy công khai nó ra ánh sáng (“cáo vu vương đình”) và dùng sức mạnh của lẽ phải (5 hào dương) để quyết đoán xử lý. Tuy nhiên, sự quyết đoán phải đi kèm với sự khôn ngoan và thời cơ. Đừng nóng vội (hào 1), hãy luôn cảnh giác (hào 2), kiềm chế sự nóng giận (hào 3), và biết nắm lấy điểm yếu then chốt của vấn đề (hào 4). Hãy hành động một cách đường hoàng, minh bạch (hào 5). Hãy nhớ, dùng đạo lý và sự công chính để chiến thắng, đó mới là “quải” của bậc quân tử.

Phần 3. Luận giải theo ngôn ngữ của các bậc tiên nho

1. Quẻ Trạch Thiên Quải trong Kinh Dịch

Tổng quan Quẻ Phục Hy Trạch Thiên Quải

Quẻ Trạch Thiên Quải hay được gọi là Quẻ Quải, là quẻ số 43 trong 64 Quẻ Kinh Dịch thuộc loại quẻ Hung.

Ngoại quái: ☱ Đoài (兌) – Trạch (澤) tức Đầm – Ngũ hành Kim.

Nội quái: ☰ Càn (乾) – Thiên (天) tức Trời – Ngũ hành Kim.

Thuộc nhóm tượng quái Khôn, Ngũ hành Thổ.

Thoán từ

Lời kinh: 夬, 揚于王庭, 孚號有厲, 吿自邑, 不利即戎, 利有攸往.

Dịch âm: Quyết, dương vu vương đình, phu hiệu hữu lệ. Cáo tự ấp, bất lợi tức nhung, lợi hữu du vãng.

Dịch nghĩa: Quẻ Quải, giơ chưng sân vua, tin gọi, có nguy. Bảo từ làng, chẳng lợi tới quân, lợi có thửa đi.

Giải nghĩa: Quải nghĩa là quyết, tức là khí Dương khơi tháo khí Âm, nó là quẻ về tháng ba. Lấy năm hào Dương trừ một hào Âm, chẳng qua khơi tháo nó đi mà thôi. Nhưng khi khơi tháo nó đi, ắt phải nêu rõ tội nó, mà hết lòng thành thực để hò gọi quân mình hợp sức với mình, và cũng còn phải lo sợ, không thể yên ổn phóng tứ, lại nên trị trước chỗ riêng tây mà không thể chuyên chuộng oai vũ, thì lợi có thửa đi. Hết thảy đều là lời răn người ta. 

Tượng quẻ

Lời kinh: 象⽈:澤上於天,夬,君⼦以施祿及下,居德則忌. 

Dịch âm: Tượng viết: Trạch thượng ư thiên, Quải, quân tử dĩ thí, lộc cập hạ, cư đức tắc ky. 

Dịch nghĩa: Lời Tượng nói rằng: Chằm lên chưng trời, là quẻ Quải. Đấng quân tử coi đó mà ra lộc tới dưới, ở đức phép ky

Giải nghĩa:  Chằm là chỗ nước tụ mà lên trên trời là chốn rất cao, cho nên là Tượng sự khỏi. Đấng quân tử coi tượng chằm khỏi ở trên mà chảy xuống dưới để ra lộc tới dưới, nghĩa là ban ơn lộc của mình cho kẻ dưới vậy: coi Tượng vỡ lở của nó, thì để ở đức phép ky. Ở đức nghĩa là ở yên với đức của mình, phép là ước, ky là ngừa, tức là ước dựng ra ngừa ngăn, có ngừa ngăn thì không vỡ tan. Chữ 則 忌 (tẳc ky). Vương Bật đổi làm 明忌 (minh kỵ – tỏ sự kiêng) cũng thông. Không nói chằm ở trên trời mà nói chằm lên chưng trời, là vì “lên chưng trời” thì có ý không nên mà có thể vỡ lở, “ở trên trời” thì là lời nói có vẻ yên ổn vậy. 

Các hào

1. Sơ Cửu (Hào 1 dương): 

Lời kinh: 初 九: 壯于前趾, 往, 不勝為咎.

Dịch âm: Tráng vu tiên chỉ, vãng, bất thắng vi Cửu.

Dịch nghĩa: Mạnh (thăng ở ngón chân bước lên trước (tức hăng tiến lên trước), tiến lên mà không chắc thắng được là có lỗi.

Giảng nghĩa: Hào này dương cương, hăng lắm, ở địa vị thấp nhất, tài còn non mà muốn tiến lên trước để diệt hào âm ở trên cùng, chưa chắc đã thắng mà cứ tiến lên là có lỗi (vì không lượng sức mình, không chuẩn bị kỷ).

2. Cửu Nhị (Hào 2 dương):

Lời kinh: 九 二: 惕, 號, 莫夜有戎, 勿恤.

Dịch âm: Dịch, hao, mạc dạ hữu nhung, vật tuất.

Dịch nghĩa: Lo lắng mà hô hào các bạn (đề phòng) như vậy dù đêm khuya giặc có tới cũng chẳng sợ.

Giảng nghĩa: Hào này dương cương, quyết tâm diệt tiểu nhân, mà đắc trung là biết lo lắng, đề phòng, cảnh cáo các bạn luôn luôn, khi vô sự mà như vậy thì khi giặc tới thình lình nữa đêm, cũng chuẩn bị sẳn sàng rồi, nên không sợ.

3. Cửu Tam (Hào 3 dương):

Lời kinh: 九 三: 壯于頄.有凶.君子夬夬.獨行遇雨, 若濡有慍, 无咎.

Dịch âm: Tráng vu quì (cừu), hữu hung, quân tử quải quải, Độc hành ngộ vũ, nhược nhu hữu uẩn, vô Cửu.

Dịch nghĩa: Cường bạo ở gò má (hiện trên mặt), có điều xấu. Người quân tử cương quyết (bỏ tiểu nhân): trước kia đã lỡ đi riêng một đường gặp mưa ướt và lấm, bị bạn bè giận, bây giờ cải quá, sẽ không có lỗi.

Giảng nghĩa: Hào này là dương cương nhưng bất trung, lại ứng với hào âm (tiểu nhân), thì kẻ tiểu nhân đó không ưa mà ngay các bạn quân tử của 3 cũng không ưa, (vì cho là giả dối?), có điều xấu đấy – Câu đầu: “Tráng vu quì, hữu hung” tối nghĩa, mỗi sách giảng một cách mà đều lúng túng.
Hào từ khuyên cứ thật cương quyết bỏ hào trên cùng đi, đánh đổ nó đi; trước kia lỡ thân với nó mà xa các bạn, như một người đi riêng một đường, gặp mưa, ướt và lấm (ý nói mắc tội lỗi), bị bạn bè giận, bây giờ hợp lực với bạn, diệt xong hào âm đó rồi, sẽ rửa sạch được lỗi.

4. Cửu Tứ (Hào 4 dương):

Lời kinh: 九 四: 臀无膚, 其行次且, 牽羊悔亡, 聞言不信.

Dịch âm: Đồn vô phu, kì hành tư thư, khiên dương hối vong, văn ngôn bất tín.

Dịch nghĩa: Như bàn toạ mà không có da (có người cho là không hợp có lớp thịt sau da), đi chập chững (khó khăn); chỉ nên đi sau người ta như người lùa bầy cừu, thì hết ân hận; (nhưng e rằng) nghe (ta) nói mà chẳng tin đâu.

Giảng nghĩa: Hào dương này bất trung bất chính, ở vào vị âm, thấy mấy hào dương kia tiến nó không lẽ ngồi im, nhưng thiếu tài, tiến chập chững (như người bàn toạ không có da), chỉ có cách tốt nhất là nhường cho các hào dương kia tiến trước, nó đi sau cùng như người lùa bầy cừu, như vậy không ân hận.
Nhưng nó ở vị nhu, không sáng suốt, cho nên khuyên nó vậy mà không chắc nó đã nghe.

5. Cửu Ngũ (Hào 5 dương):

Lời kinh: 九 五: 莧陸, 夬夬, 中行, 无咎.

Dịch âm: Nghiễn lục, quải quải, trung hành, vô Cửu.

Dịch nghĩa: Như rau sam (được nhiều âm khí), nếu hào 5 cương quyết, đào tận gốc nó, cứ theo đạo trung mà đi thì không lỗi.

Giảng nghĩa: Hào này ở gần hào trên cùng, gần tiểu nhân (âm, ví như rau sam), như vậy không tốt; nhưng may nó là dương cương , đắc trung đắc chính, nên không bịn rịn với hào trên cùng mà quyết tâm trừ đi. Hào từ khuyên phải giữ đạo trung thì mới không có lỗi (vì 5 vốn có tư tình với hào trên)

6. Thượng Lục (Hào 6 âm):

Lời kinh: 上 六: 无號, 終 有凶.

Dịch âm: Vô hào, chung hữu hung.

Dịch nghĩa: Đừng kêu gào, không ai giúp đâu, cuối cùng sẽ bị hoạ.

Giảng nghĩa: Hào âm ở trên cùng quẻ Quải, bị 5 hào dương tấn công, nguy cơ tới rồi, không có hào nào giúp nó cả, cho nên khuyên nó đừng kêu gào vô ích, cuối cùng sẽ chết thôi.

2. Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Trạch Thiên Quải trong chiêm bốc, đoán quẻ

Triệu và điềm của quẻ Quải 

Quẻ Quải có triệu Du Phong Thoát Võng – Gặp hung hoá cát. Có bài thơ như sau:

Ong thoát lưới tơ, thật rất may,

Cầu tài cầu lộc, được hanh thông.

Hôn nhân hoà hợp, bệnh tật hết,

Phú quý vinh hoa, vận đến rồi.

Dụng thần quẻ Quải

Quẻ Quải thiếu một thân là Phụ Mẩu Ất Tỵ Hỏa, đây chính là Phục Thần của Quải, vậy Phi Thần là Quan Quỷ Giáp Dần Mộc ở nhị hào. Qua thế này: Phi Thần Mộc sinh Phục Thần Hỏa. Hỏa của Phục Thần lại trường sinh tại Dần, do vậy Phục không những xuất hiện được mà còn có lực trợ giúp Phi một cách mạnh mẽ, đắc lực. Điều này phản ánh trong công việc rơi vào trạng thải không gian này, người cộng sự giúp mình rất có hiệu quả.