Luận Giải Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Số 45 – Quẻ Trạch Địa Tuy

Phần 1. Luận đoán quẻ Tuy trong cuộc sống
Ước muốn: Có thể trở thành hiện thực.
Hôn nhân: Hạnh phúc, xứng đôi vừa lứa. Thành công suôn sẻ.
Tình yêu: Mỹ mãn – mỗi bên đều đối xử với nhau bằng sự tương kính như tân.
Gia đạo: Các thành viên trong gia đình cùng chung hưởng hạnh phúc và vui vẻ. Gia tài sung thịnh.
Con cái: Đông, sống hòa thuận. Thai nghén: con gái.
Vay vốn: Có thể trở thành hiện thực.
Kinh doanh: Làm ăn phát đạt, lợi nhuận suôn sẻ.
Chứng khoán: Giá cả dần dần tăng lên.
Tuổi thọ: Sống thọ và khỏe mạnh.
Bệnh tật: Mau chóng bình phục. Các bệnh tật của ngực và vùng bụng.
Chờ người: Sẽ đến đồng thời còn mang theo điều gì đó thật thú vị.
Tìm người: Đừng lo âu. Người này chẳng bao lâu sẽ tự động trở về hoặc sẽ biết được những nơi người đó thường lui tới. Hãy tìm ở hướng Tây hoặc Tây Nam.
Vật bị mất: Có thể tìm được. Hãy tìm ở hướng Tây hoặc Tây Nam.
Du lịch: Việc đi xa sẽ có lợi.
Kiện tụng và tranh chấp: Sự bất hòa không có lợi. Tốt nhất hãy tìm cách hòa giải.
Việc làm: Có thể dễ dàng tìm được.
Thi cử: Điểm cao.
Kinh doanh mới, thay đổi nghề nghiệp, chuyên môn hay chỗ làm: Hãy tiến hành.
Thời tiết: Mưa nặng hạt, thậm chí có thể có lũ lụt.
Phần 2. Luận giải theo ngôn ngữ hiện đại
1. Tên quẻ: Trạch Địa Tụy
2. Ý nghĩa tổng quan
Quẻ Trạch Địa Tụy tượng trưng cho sự tụ họp, tập hợp và đoàn kết. Trên là Đầm (Trạch) – hòa duyệt, vui vẻ; dưới là Đất (Địa) – thuận theo, bao dung. Hình ảnh nước (đầm) tụ trên mặt đất, thấm vào lòng đất, tụ lại thành ao hồ. Quẻ này biểu thị thời kỳ mọi người hướng về một mục tiêu chung, tụ tập lại vì một lý tưởng, hoặc sự hình thành của các tổ chức, cộng đồng. Đây là quẻ của sự sum vầy, hội họp và sức mạnh tập thể.
3. Hình ảnh và biểu tượng
Hình ảnh: Trạch thượng ư địa – Đầm nước ở trên mặt đất. Nước tụ lại, đất chở che, tạo nên sự sinh sôi.
Biểu tượng: Tụy, tụ dã – Tụy là tụ họp. Và Vương cách hữu miếu – Nhà vua đến Thái Miếu (tế lễ, họp bàn việc nước). Biểu tượng của sự quy tụ nhân tâm, của nghi lễ tập thể và sự thống nhất ý chí.
4. Luận giải từng hào
Hào Sơ Lục: Hữu phu bất chung, nãi loạn nãi tụy, nhược hiệu, nhất 屋 vi thứ, vô cửu – Có lòng tin nhưng không đến cùng, bèn loạn bèn tụ. Nếu kêu gọi, một nhà cũng cười, không lỗi. Lòng tin chưa kiên định, dễ bị dao động giữa hỗn loạn và tụ tập. Nhưng nếu thành tâm kêu gọi, dù chỉ quy tụ được một nhóm nhỏ (nhất 屋) cũng đáng quý, không có lỗi.
Hào Lục Nhị: Dẫn cát, vô cửu, phu nãi lợi dụng vụ – Dẫn dắt thì tốt, không lỗi. Lòng tin ấy mới có thể dùng vào việc tế tự (việc hệ trọng, chung). Ở vị trí thuận lợi, nếu biết dẫn dắt mọi người (dẫn cát) một cách chân thành, thì có thể tổ chức được những việc lớn mang tính cộng đồng.
Hào Lục Tam: Tụy như thế như, vô du lợi, vãng vô cửu, tiểu lận – Tụ họp mà than vãn, ta thán (thế như), không có lợi gì. Tiến lên không có lỗi, chỉ hơi khó xử. Tụ họp nhưng trong lòng không vui, nhiều lời oán thán. Việc tụ họp đó không mang lại lợi ích thực sự. Tuy nhiên, cứ tiến hành thì cũng không sai, chỉ là hơi ngượng ngùng.
Hào Cửu Tứ: Đại cát, vô cửu – Rất tốt lành, không có lỗi. Ở vị trí gần ngôi vị (hào 5), việc tụ họp diễn ra rất thuận lợi và đem lại kết quả tốt đẹp, hoàn toàn vô sự.
Hào Cửu Ngũ: Tụy hữu vị, vô cửu, phất phu, nguyên vĩnh trinh, hối vong – Tụ họp mà có địa vị (được mọi người suy tôn), không lỗi. Nhưng nếu không có lòng tin chân thành (phất phu) thì dù có khởi đầu tốt (nguyên) và muốn giữ bền lâu (vĩnh trinh), cũng khó. Giữ được lòng tin thì hối hận tiêu tan. Người đứng đầu cuộc tụ họp phải có đức độ và lòng tin thực sự mới giữ được lòng người lâu dài.
Hào Thượng Lục: Ti tư thấp đê, vô cửu – Than thở, rơi nước mắt, ủ rũ (thấp đê), không có lỗi. Ở cuối cùng của sự tụ họp, có thể nảy sinh cảm giác bi ai, tiếc nuối (vì sắp tan). Cảm xúc ấy là tự nhiên, không có gì sai.
5. Ứng dụng quẻ trong cuộc sống
Công danh, sự nghiệp: Có lợi cho việc xây dựng đội nhóm, họp hành, đại hội cổ đông. Nên tham gia các hiệp hội, tổ chức nghề nghiệp. Sức mạnh tập thể giúp thăng tiến.
Tài lộc: Có thể góp vốn, hợp tác đầu tư theo nhóm. Tài chính được tích lũy từ nhiều nguồn nhỏ. Tham gia các quỹ tiết kiệm hoặc đầu tư chung.
Tình duyên, gia đạo: Gia đình sum họp đông vui, họp mặt gia tộc. Bạn bè tụ tập vui vẻ. Là thời điểm tốt để tổ chức tiệc cưới, lễ kỷ niệm.
Sức khỏe: Tinh thần vui vẻ vì được gặp gỡ người thân, bạn bè. Sức khỏe được cải thiện nhờ không khí tích cực của tập thể.
6. Lời khuyên
Quẻ Tụy dạy ta về sức mạnh của sự đoàn kết và quy tụ. “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Hãy biết hướng về những giá trị chung, về người lãnh đạo có đức (vị) để cùng nhau tạo nên sức mạnh lớn lao. Tuy nhiên, sự tụ họp phải dựa trên lòng tin chân thành (phu) và mục đích tốt đẹp, nếu không sẽ chỉ là đám đông hỗn tạp, đầy oán than (thế như). Khi đã tụ họp, người đứng đầu phải giữ được đạo “nguyên vĩnh trinh” – tốt đẹp từ đầu và bền vững đến sau. Hãy trân trọng những giây phút sum vầy, vì rồi cũng có lúc chia tay (thượng lục).
Phần 3. Luận giải theo ngôn ngữ của các bậc tiên nho
1. Quẻ Thủy Thiên Nhu trong Kinh Dịch
Tổng quan Quẻ Phục Hy Thủy Thiên Nhu
Quẻ Trạch Địa Tụy hay được gọi là Quẻ Tụy, là quẻ số 45 trong 64 Quẻ Kinh Dịch thuộc loại quẻ Cát.
Ngoại quái: ☱ Đoài (兌) – Trạch (澤) tức Đầm – Ngũ hành Kim.
Nội quái: ☷ Khôn (坤) – Địa (地) tức Đất – Ngũ hành Thổ.
Thuộc nhóm tượng quái Đoài, Ngũ hành Kim.
Thoán từ
Lời kinh: 萃亨, 王假有廟.
Dịch âm: Tuy hanh, vương cách hữu miếu
Dịch nghĩa: Quẻ Tụy hanh, vua đến có miếu
Giải nghĩa: Ông vua có đạo tụ họp thiên hạ đến chưng có miếu là tột bậc rồi [2] . Các loài là thứ rất nhiều, mà có thể thống nhất sự quy ngưỡng của chúng, lòng người là thứ không biết nơi đâu là nơi chốn, mà có thể cho họ phải thành kính, quỷ thần là đấng không thể lường biết, mà có làm cho các ngài lại đến, cái đạo tụ họp lòng người, tóm thu chí dân, không phải chỉ có một đường, nhưng trong đó, không gì lớn bằng tôn miếu, cho nên đạo họp thiên hạ của kẻ làm vua, đến chưng có miếu thì tột bậc của sự họp. Việc báo đáp trong cuộc tế tự vốn ở lòng người mà ra, đấng thánh nhân đặt ra lễ nghi để làm cho nên đức ấy, cho nên con chồn, con gái, cũng đều biết tế, tính nó như vậy. Quẻ Tụy có chữ 亨 (hanh), tức là lời khen ngợi, chữ 亨 (hanh) phải ăn xuống dưới, khác với quẻ Hoán. Quẻ Hoán trước nói tài quẻ, quẻ Tụy trước nói nghĩa Quẻ, ý đó coi ở lời Thoán rất rõ.
Tượng quẻ
Lời kinh: 彖⽈:澤上於地, 萃,君⼦以除戎器,戎不虞.
Dịch âm: Tượng viết: Trạch thượng ư địa, Tuy, quân tử dĩ trừ nhung khí, giới bất ngu.
Dịch nghĩa: Lời Tượng nói rằng: Chằm lên chưng đất, là quẻ Tụy, đấng quân tử coi đó mà trừ đồ quân, răn sự chẳng lường.
Giải nghĩa: Chằm lên chưng đất, là Tượng tụ họp, đấng quân tử xem Tượng “họp” đó mà trừ, sửa đồ binh, để răn ngừa việc chẳng lường. Phàm vật họp lại, thì phải có việc không thể lường đoán, cho nên loài người họp lại thì tranh nhau, loài vật họp lại thì cướp nhau, đại để chỉ vì đã họp thì nhiều, cho nên xem Tượng quẻ Tụy mà răn sợ sẵn. Trừ là kén chọn sửa trị, tức là bỏ cái nát xấu. Trừ mà họp, là để răn ngừa việc chẳng lường.
Các hào
1. Sơ Lục (Hào 1 âm):
Lời kinh: 初 六: 有孚, 不終, 乃亂乃萃.若號, 一握為笑勿恤, 往, 无咎.
Dịch âm: Hữu phu, bất chung, mãi loạn nãi tụy; Nhược hào, nhất ác vi tiếu vật tuất, vãng, vô Cửu.
Dịch nghĩa: Có người tin mình mà mình không thể đến cùng, rồi làm rối loạn nhóm của mình; nên biết lầm mà kêu gọi người tin mình kia, dù có bị một bầy (tiểu nhân) cười cũng mặc, cứ theo lên (vãng) với người tin mình, thì không có lỗi.
Giảng nghĩa: Hào 1 này có chính là hào 4 dương cương, tức là có bạn tin mình, nhưng 1 âm nhu, giữ đạo chính không được vững (không theo 4 đến cùng) mà nhập bọn với 2, 3 đều là âm nhu tiểu nhân, làm rối loạn nhóm của mình. Nếu có biết như là lầm mà kêu gọi 5, theo 4, dù có bị 2, 3 cười cũng mặc, thì sẽ không có lỗi.
2. Lục Nhị (Hào 2 âm):
Lời kinh: 六 二: 引, 吉, 无咎, 孚, 乃利用禴
Dịch âm: Dẫn, cát, vô Cửu, phu, nãi lợi dụng thược.
Dịch nghĩa: Dẫn bên lên nhóm với hào 5 thì tốt, không có lỗi, phải chí thành, chí thành thì như trong việc tế lễ, dùng lễ mọn cũng tốt.
Giảng nghĩa: Hào này âm nhu nhưng trung chính, ứng với hào 5 dương cương trung chính ở trên, là một nhóm rất tốt. Nhưng vì nó xen vài giữa hai hào âm 1 và 3, mà cách xa hào 5, nên Hào từ khuyên nó kéo hai hào âm đó lên nhóm họp với 5, thì tốt, không có lỗi, và nhớ phải chí thành (phu) mới được, chí thành thì như trong việc cúng tế, dùng lễ mọn (thược) cũng tốt) .
3. Lục Tam (Hào 3 âm):
Lời kinh: 六 三: 萃如, 嗟如, 无攸利, 往, 无咎, 小吝.
Dịch âm: Tụy như, ta như, vô du lợi, vãng, vô Cửu, tiểu lận.
Dịch nghĩa: Muốn họp mà không được nên than thở, chẳng có gì tốt cả; tiến lên mà họp với hào thượng, tuy hơi bất mãn đấy, nhưng không có lỗi.
Giảng nghĩa: Hào 3 này âm nhu, ứng với hào trên cùng, nhưng không thích (vì hào này cũng âm nhu), muốn họp với 4 và 5 là dương kia, nhưng 4 có bạn là 1, 5 có bạn là 2 rồi, chê 3 là bất trung ,bất chính không thèm; 3 nhìn xuống dưới, muốn họp với 2,1 cũng không được vì họ có bạn là 5, 4 rồi; vì vậy 3 than thở, chẳng có gì tốt cả. Ðành phải tiến lên mà họp với hào trên cùng vậy, bất như ý đấy, nhưng không có lỗi.
4. Cửu Tứ (Hào 4 dương):
Lời kinh: 九 四: 大吉, 无咎.
Dịch âm: Đại cát, vô Cửu.
Dịch nghĩa: Nếu được rất tốt thì mới không có lỗi.
Giảng nghĩa: Hào này dương cương, tốt, chỉ hiềm bất chính; nó thân với hào 5, dương cương ở trên, mà lại gần với một bầy âm nhu ở dưới tình thế khó khăn, phải làm sao thuyết phục được bầy âm theo 5, như vậy mới khỏi có lỗi.
5. Cửu Ngũ (Hào 5 dương):
Lời kinh: 九 五: 萃有位, 无咎, 匪孚元永貞, 悔亡.
Dịch âm: Tụy hữu vị, vô Cửu, phi phu nguyên vĩnh trinh, hối vong.
Dịch nghĩa: Nhờ có vị cao mà nhóm họp được người, không có lỗi, nếu người chưa tin mình thì phải giữ tư cách nguyên thủ, giữ người được lâu, giữ đạo chính được bền, như vậy mới không hối hận.
Giảng nghĩa: Bốn hào âm trong quẻ này đều muốn họp với hai hào dương, mà trong hai hào dương này, hào 5 có địa vị cao nhất, đức lại thịnh hơn hào 4, đủ cả trung, chính, cho nên các hào âm đều hướng vào (tụy hữu vị), tốt, không có lỗi. Nhưng còn e có người vẫn chưa tin hẳn 5 (phỉ nhu); muốn cho mọi người tin thì phải làm sao xứng đáng là vị nguyên thủ (nguyên), giữ người được lâu (vĩnh) giữ đạo chính (trinh) được bền, như vậy sẽ không hối hận.
6. Thượng Lục (Hào 6 âm):
Lời kinh: 上 六: 齎咨, 涕洟, 无咎.
Dịch âm: Tế tư, thế di, vô Cửu.
Dịch nghĩa: Than thở, sụt sùi, không trách lỗi ai được.
Giảng nghĩa: Hào này âm nhu, kém tư cách, lại ở cuối thời nhóm họp (tụy) muốn họp với ai cũng không được, tới nỗi than thở, sụt sùi, cứ an phận thì không có lỗi. Phan Bội Châu hiểu “vô cữu” là không trách lỗi ai được, cũng như hào trên cùng quẻ Cấu ở trên.
2. Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Thủy Thiên Nhu trong chiêm bốc, đoán quẻ
Triệu và điềm của quẻ Nhu
Quẻ Tụy có triệu Ngư Lý Hóa Long – Rồng bay lên trời. Có bài thơ như sau:
Cá chép hoá rồng, mọi sự vui,
Bệnh tật, cãi cọ, cũng phải lui.
Kinh doanh, góp vốn, đều có lợi,
Phú quý vinh hoa, sẽ có ngày.
Dụng thần quẻ Mông
Quẻ Tụy có đủ các Lục Thân cho nên không có Phi Thần, Phục Thần.
