Ý nghĩa quẻ 55 – Lôi Hỏa Phong trong Kinh dịch

Luận Giải Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Số 55 – Quẻ Lôi Hỏa Phong

Quẻ Phục Hy Số 55 Lôi Hỏa Phong
Quẻ Phục Hy Số 55 Lôi Hỏa Phong

Phần 1. Luận đoán quẻ Phong trong cuộc sống

Ước muốn: Thực hiện suôn sẻ.

Hôn nhân: Hôn nhân mỹ mãn và sung thịnh.

Tình yêu: Có thể thành công; nhưng hành động ích kỷ, bất chấp người khác có thể dẫn đến thất bại.

Gia đạo: Gia cảnh sung thịnh, phú túc. Tuy nhiên, sự kiêu căng hay cách đối nhân xử thế trịch thượng có thể dẫn đến cảnh suy tàn.

Con cái: Nhiều hạnh phúc và thịnh vượng. Tuy nhiên, không được lơ là trong việc giáo dục. Thai nghén: con trai.

Vay vốn: Thành công.

Kinh doanh: Có thể thu được rất nhiều lợi nhuận.

Chứng khoán: Giá tăng.

Tuổi thọ: Khỏe mạnh, sống thọ.

Bệnh tật: Bệnh nặng. Sức khỏe của bạn từ trước đến giờ không tráng kiện mấy, nên phải hết sức chú trọng đến việc tịnh dưỡng để đảm bảo sự bình phục. Các bệnh ảnh hưởng đến hệ thần kinh, dạ dày, đường ruột và tiểu đường.

Chờ người: Sẽ đến, đồng thời còn mang theo tin vui.

Tìm người: Đừng lo lắng. Sẽ sớm biết được những nơi thường lui tới của người ấy, hoặc anh ta sẽ tự động trở về.

Vật bị mất: Sự bất cẩn gây ra mất mát. Hãy lặng lẽ tìm kiếm với thái độ bình tĩnh và bạn sẽ tìm được. Hãy tìm ở hướng Đông hoặc hướng Nam.

Du lịch: Tốt đẹp.

Kiện tụng và tranh chấp: Thắng lợi, hoặc sẽ đạt một giải pháp, sự hòa giải có lợi.

Việc làm: Có thể tìm được công việc hay chức vụ tốt.

Thi cử: Điểm số rất cao.

Kinh doanh mới, thay đổi nghề nghiệp, chuyên môn hay chỗ làm: Cát tường. Hãy tiến hành.

Thời tiết: Thời tiết tốt vào lúc này, nhưng trời có thể chuyển sang thời tiết xấu.

Phần 2. Luận giải theo ngôn ngữ hiện đại

1. Tên quẻ: Lôi Hỏa Phong 

2. Ý nghĩa tổng quan

Quẻ Lôi Hỏa Phong tượng trưng cho sự thịnh vượng cực đại, phong phú và rực rỡ. Trên là Sấm (Lôi) – động lực mạnh mẽ, dưới là Lửa (Hỏa) – ánh sáng chiếu rọi. Hình ảnh sấm chớp giữa trời, lửa sáng dưới đất, tạo nên một quang cảnh huy hoàng, đầy năng lượng. “Phong” nghĩa là dồi dào, lớn lao, tốt đẹp. Quẻ này biểu thị thời kỳ đạt đến đỉnh cao của sự nghiệp, tài lộc, danh vọng; mọi thứ đều dư dả, thành tựu rực rỡ. Tuy nhiên, đỉnh cao cũng là điểm bắt đầu của sự suy thoái, nên quẻ cũng cảnh báo về việc phải biết giữ gìn và chia sẻ khi ở đỉnh phong.

3. Hình ảnh và biểu tượng

Hình ảnh: Lôi hỏa, phong – Sấm và Lửa, (tạo nên sự) huy hoàng.

Biểu tượng: Phong, hanh, vương cách chi, vật ưu, nghi nhật trung – Quẻ Phong hanh thông. Đến với vua, chớ lo, nên (làm việc) giữa ban ngày. Biểu tượng của sự cực thịnh, của việc hành động công khai, minh bạch dưới ánh sáng mặt trời (nhật trung).

4. Luận giải từng hào

Hào Sơ Cửu: Ngộ kỳ phối chủ, tuy tuần vô cửu, vãng hữu thượng – Gặp được người chủ (đối tác, bạn đời) xứng đôi, dù chỉ mười ngày (thời gian ngắn) cũng không lỗi, tiến lên sẽ được tôn trọng. Ở thời kỳ thịnh vượng, việc tìm được đối tác, đồng minh xứng đôi (phối chủ) là rất quan trọng. Dù thời gian hợp tác ban đầu ngắn, cũng không sai. Tiếp tục sẽ được đề cao.

Hào Lục Nhị: Phong kỳ bộ, nhật trung kiến đấu, vãng đắc nghi tật, hữu phu phát nhược, cát – Che khuất mặt trời giữa trưa (nhật trung) đến mức thấy được sao Bắc Đẩu (đấu). Tiến lên sẽ bị nghi ngờ, có bệnh. Có lòng tin thì mới phát huy được sự yếu kém (của đối phương), tốt. Ngay giữa thời cực thịnh (nhật trung), cũng có thể xảy ra sự che khuất, tối tăm bất thường (kiến đấu). Hành động lúc này dễ bị nghi ngờ, gặp trở ngại. Chỉ có lòng tin chân thành mới có thể cảm hóa được những điểm yếu, nghi ngờ, biến nó thành điều tốt.

Hào Cửu Tam: Phong kỳ bái, nhật trung kiến mẩu, chiết kỳ hữu cung, vô cửu – Che khuất cái tàn lọng, giữa trưa thấy sao mờ (mẩu). Gãy tay phải (cung), không có lỗi. Sự thịnh vượng bị che khuất bởi chính những thứ phô trương bên ngoài (bái). Có tổn thất, hao mòn (chiết kỳ hữu cung) nhưng không đến nỗi phạm lỗi lớn. Cần đề phòng sự sa sút.

Hào Cửu Tứ: Phong kỳ bộ, nhật trung kiến đấu, ngộ kỳ di tông, cát – Che khuất mặt trời giữa trưa, thấy sao Bắc Đẩu. Gặp được vị chủ tông (minh chủ, quý nhân), tốt. Giữa lúc thịnh vượng bị che khuất (phong kỳ bộ), nếu may mắn gặp được bậc minh chủ, người dẫn đường sáng suốt (di tông), thì vẫn là điều tốt, có thể vượt qua.

Hào Lục Ngũ: Lai chương, hữu khánh dự, cát – Đón nhận vẻ đẹp rực rỡ (chương), có niềm vui, được khen ngợi (khánh dự), tốt. Ở vị trí trung tâm của sự thịnh vượng, đón nhận mọi vinh quang, ca ngợi. Đây là điềm rất tốt, đỉnh cao của quẻ Phong.

Hào Thượng Lục: Phong kỳ ốc, bộ kỳ gia, khuy kỳ hộ, khuy kỳ vô nhân, tam tuế bất đế, hung – Làm cho nhà cửa (ốc) trở nên huy hoàng, che khuất cả gia đình (gia). Nhìn qua cửa sổ (khuy kỳ hộ), trống trải không có người (vô nhân). Ba năm không gặp (bất đế), xấu. Sự phồn vinh chỉ là bề ngoài, bên trong thì trống rỗng, hoang vắng (khuy kỳ vô nhân). Sự cô độc và suy tàn kéo dài (tam tuế). Rất hung hiểm. Đây là hậu quả của sự phô trương quá mức, đánh mất bản chất.

5. Ứng dụng quẻ trong cuộc sống

Công danh, sự nghiệp: Đạt đến đỉnh cao sự nghiệp, thành công rực rỡ, được mọi người ngưỡng mộ. Tuy nhiên, cần đề phòng đố kỵ, phô trương quá mức dẫn đến sa sút. Nên hành động minh bạch (nhật trung).

Tài lộc: Tài sản kếch xù, của cải dồi dào. Có thể đầu tư mạnh. Nhưng cần biết chia sẻ, làm từ thiện, tránh để “phong kỳ ốc” – chỉ biết tích trữ.

Tình duyên, gia đạo: Hôn nhân hạnh phúc viên mãn, gia đình giàu sang. Nhưng cần chú ý gắn kết tình cảm thực sự, đừng để chỉ còn vẻ ngoài hào nhoáng.

Sức khỏe: Thể trạng sung mãn, tinh thần phấn chấn. Tuy nhiên, cần chú ý không ăn uống, hưởng thụ quá độ dẫn đến bệnh tật.

6. Lời khuyên

Quẻ Phong dạy ta cách sống ở đỉnh cao. Thịnh vượng là điều ai cũng mong ước, nhưng giữ được nó mới khó. Hãy như mặt trời giữa trưa (nhật trung), tỏa sáng rực rỡ và công bằng. Đừng để bị che khuất bởi sự phô trương, kiêu ngạo (phong kỳ bộ). Hãy tìm những người bạn, đối tác xứng đôi (phối chủ) và bậc minh chủ (di tông) để cùng nhau duy trì thành quả. Quan trọng nhất, đừng để cái “nhà” bên ngoài quá huy hoàng mà bên trong lại trống rỗng, không có tình người (khuy kỳ vô nhân). Hãy nhớ: “Mãn chiêu tổn, khiêm thụ ích” – đầy thì tổn, khiêm thì lợi. Biết chia sẻ và khiêm tốn khi ở đỉnh phong, đó mới là trí tuệ thực sự.

Phần 3. Luận giải theo ngôn ngữ của các bậc tiên nho

1. Quẻ Lôi Hỏa Phong trong Kinh Dịch

Tổng quan Quẻ Phục Hy Lôi Hỏa Phong

Quẻ Lôi Hỏa Phong hay được gọi là Quẻ Phong, là quẻ số 55 trong 64 Quẻ Kinh Dịch thuộc loại quẻ Cát.

Ngoại quái: ☳ Chấn (震) – Lôi (雷) tức Sấm – Ngũ hành Mộc.

Nội quái: ☲ Ly (離) – Hỏa (火) tức Hỏa – Ngũ hành Hỏa.

Thuộc nhóm tượng quái Khảm, Ngũ hành Thủy.

Thoán từ

Lời kinh: 豐亨, 王假之, 勿憂宜日中.

Dịch âm: Phong hanh, vương giá chi, vật ưu nghi nhật trung.

Dịch nghĩa: Quẻ Phong hanh thông, vua đến đấy, chớ lo, nên mặt trời giữa.

Giải nghĩa: Phong là thịnh lớn, nghĩa nó vẫn hanh thông. Làm cho tột bậc sang lớn ở gầm trời, chỉ đấng vương giả có thể được thế. Đến là tột bậc vậy. Cao đến như ngôi trời, giàu đến như bốn bể, nhiều đến như các loài, lớn đến như đạo vương, làm cho cùng tột đạo thịnh, chỉ có đấng vương giả. Trong thời thịnh, nhân dân đông nhiều, các vật thịnh vương, trị chúng há dễ? Việc đó vẫn đáng lo lắng, phải nên như mặt trời giữa trưa, sáng rõ soi rộng, không đâu không tới, rồi mới không lo.

Tượng quẻ

Lời kinh: 象⽈: 雷電皆⾄,豐,君⼦以折獄致刑. 

Dịch âm: Tượng viết: Lôi điện giai chí, Phong, quân tử dĩ triết ngục trí hình. 

Dịch nghĩa: Sấm chớp đều đến là quẻ Phong. Đấng quân tử coi mà bẻ ngục đến hình.

Giải nghĩa: Sấm chớp đều đến, tức là sự sáng và sự động cùng đi; hai thể hợp nhau, cho nên nói là “đều đến”. Sự sáng và sự động giúp nhau thành ra tượng thịnh, Ly là sáng, tức là Tượng soi xét; Chấn là động, tức là Tượng oai đoán. Bẻ ngục phải soi cho đến tình thật, chỉ có sáng suốt mới có thể tin. Đến hình là ra oai với kẻ gian tà, phải quyết đoán mới được. Cho nên đấng quân tử coi Tượng sấm chớp sáng động để mà bẻ ngục đến hình. 

Các hào

1. Sơ Cửu (Hào 1 dương):

Lời kinh: 初 九: 遇其配主, 雖旬, 无咎, 往有尚.

Dịch âm: Ngộ kì phối chủ, tuy tuần, vô Cửu, vãng hữu thượng.

Dịch nghĩa: Gặp được người chủ hợp với mình, tuy ngang nhau nhưng không có lỗi tiến đi thì có công nghiệp đáng khen.

Giải nghĩa: Hào này ở nội quái Ly, có đức sáng suốt, có tài (vì là dương), ở trên ứng với hào 4, thuộc ngoại quái Chấn, có đức hoạt động, mà cũng có tài (dương cương ) Bình thường thì ứng với nhau, phải một âm một dương mới tốt, ở hào này thì khác, cùng là dương cả mà cũng tốt, vì 1 sáng suốt, 4 hoạt động, hai hào dương thành, chứ không tương phản, giúp nhau làm nên sự nghiệp lớn được. Hai hào ngang nhau, biết châm chước ý kiến nhau là điều tốt cho sự hợp tác; nếu một bên cầu thắng, một bên chỉ nhường, thì không còn là hợp tác nữa, khó mà thành công lớn được.

2. Lục Nhị (Hào 2 âm):

Lời kinh: 六 二: 豐其蔀, 日中見斗.往, 得疑疾, 有孚發若, 吉.

Dịch âm: Phong kì bộ, nhật trung kiến đẩu; Vãng, đắc nghi tật, hữu phu phát nhược, cát.

Dịch nghĩa: Bị màn che lớn, dày quá, như ban ngày (mặt trờ bị che lấp) mà thấy sao Bắc đẩu; tiến đi thì bị ngờ và ghét, cứ lấy lòng chí thành mà cảm hoá được người trên thì tốt.

Giải nghĩa: Hào âm này ở giữa quẻ Ly, đắc trung đắc chính; nhưng kẻ ứng với nó là hào âm, âm nhu bất chính, không giúp được nó, không tin nó; nó như một hiền thần gặp một ám chúa, nên ví với mặt trời (quẻ Ly) bị mây mù che dày. Có muốn theo 5 thì bị 5 nghi kỵ và ghét; chỉ có cách giữ vững đức trung trinh, lấy lòng chí thành mà đối xử với 5, rồi sau 5 sẽ tỉnh ngộ. Chữ 若 nhược ở đây trỏ hào 5.

3. Cửu Tam (Hào 3 dương):

Lời kinh: 九 三: 豐其沛, 日中見沬.折其右肱, 无咎.

Dịch âm: Phong kỳ bái, nhật trung kiến muội. Chiết kì hữu quăng, vô Cửu.

Dịch nghĩa: Bị màn che kín mít, ban ngày mà thấy sao nhỏ (muội) gẩy cánh tay phải, không có lỗi.

Giải nghĩa: Hào này dương cương, ở trên cùng quẻ Ly là người sáng suốt, có tài; nhưng hào trên cùng ứng với nó lại bất tài (âm nhu), không giúp gì được nó; đã vậy nó còn bị hào 4 che ám, hoàn cảnh còn tệ hơn hào 2 nữa, cho nên bảo là bị tấm màn che kín mít, ban ngày mà tối như đêm, thấy được cả những vì sao nhỏ. Như vậy hào 3 như người bị gẩy cánh tay phải (trỏ hào 5 không giúp gì được nó), nó không có lỗi vì hoàn cảnh khiến vậy.

4. Cửu Tứ (Hào 4 dương):

Lời kinh: 九 四: 豐其蔀, 日中見斗, 遇其夷主, 吉.

Dịch âm: Phong ki bộ, nhật trung kiến đẩu, ngộ kì di chủ, cát.

Dịch nghĩa: Bị màn che lớn dày quá, như ban ngày mà thấy sao Bắc Ðẩu gặp được bạn bằng vai vế, tốt.

Giải nghĩa: Hào này dương cương, ở địa vị cao, có thể lập được sự nghiệp, nhưng bất trung, bất chính lại bị hào 5 âm nhu, hôn ám che lấp hoàn cảnh cũng như hào 2, cũng ban ngày mà thấy sao Bắc đẩu, nhưng nay được hào 1 ở dưới đồng đức (cũng dương cương ) bằng vai vế ứng với nó, cũng coi là tốt được.

5. Lục Ngũ (Hào 5 âm):

Lời kinh: 六 五: 來章, 有慶, 譽, 吉.

Dịch âm: Lai chương, hữu khánh, dự, cát.

Dịch nghĩa: Mời những nhân tài giúp mình thì được phúc, có tiếng khen, tốt.

Giải nghĩa: Hào này ở địa vị chí tôn, âm nhu, không có tài tạo được sự nghiệp thịnh lớn, nhưng khá là có đức trung (ở giữa ngoại quái), và có hào 3, 4 dương cương , hiền tài ở dưới mình, nếu biết mời họ giúp mình thì có phúc và được tiếng khen, tốt.

6. Thượng Lục (Hào 6 âm):

Lời kinh: 上 六: 豐其屋, 蔀其家, 闚其戶.闃其无人,三歲不覿, 凶.

Dịch âm: Phong kì ốc, bộ kì gia, khuy kì hộ, Huých kì vô nhân, tam tuế bất địch, hung.

Dịch nghĩa: Cất nóc nhà rất cao lớn mà phòng mình ở lại nhỏ hẹp, bị bưng bít (tự mình không muốn ai lui tới với mình), cho nên nhìn vào cửa, lặng tanh không thấy bóng người, ba năm không thấy ai (hoặc không giác ngộ) xấu.

Giải nghĩa: Hào này khó hiểu, mỗi sách giảng một khác, chúng tôi theo cách hiểu của Phan Bội Châu vì hợp với Tiểu Tượng truyện hơn cả.
Hào này âm nhu, như người hôn ám, mà ở trên cùng, có địa vị rất cao, y như người cất nhà, nóc rất cao (địa vị cao), mà buồng mình ở lại thấp hẹp (bản tính âm nhu), thế là tự mình che lấp mình, nên không ai lui tới với mình, do đó mà đứng ở cửa nhìn vào, không thấy bóng người, ba năm không thấy ai (hoặc ba năm vẫn không giác ngộ: địch là thấy rõ). Không gì xấu hơn.

2. Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Lôi Hỏa Phong trong chiêm bốc, đoán quẻ

Triệu và điềm của quẻ Phong

Quẻ Phong có triệu Cổ Kính Trùng Minh – Vận tốt trở lại. Có bài thơ như sau:

Cổ kính trùng minh, vận tốt lành,

Cầu danh cầu lộc, thật là may.

Hôn nhân hoà hợp, vui hạnh phúc,

Của mất người đi, trở lại ngay.

Dụng thần quẻ Phong

Quẻ Phong có đầy đủ Lục Thân, do vậy không có Phục Thần và không có Phi Thần.