Luận Giải Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Số 6 – Quẻ Thiên Thủy Tụng

Phần 1. Luận đoán quẻ Tụng trong cuộc sống
Ước muốn: Không thể thành.
Hôn nhân: Không thuận lợi. Sẽ không thành công.
Tình yêu: Phía bên kia chưa đủ thành thực. Sẽ kết thúc trong sự thất bại.
Gia đạo: Những người trong gia đình đang lúc khó chịu, phải tăng cường các mối quan hệ tương hỗ.
Con cái: Xung đột tư tưởng và ý kiến giữa cha và con. Thai nghén: con trai.
Vay vốn: Cực kỳ khó khăn.
Kinh doanh: Xử lý không thích đáng, dẫn đến tổn thất.
Chứng khoán: Tăng giảm liên tục, không ổn định.
Tuổi thọ: Nhiều bệnh tật và dễ đoản thọ. Phải hết sức cẩn thận trong việc chăm sóc sức khỏe của mình.
Bệnh tật: Nghiêm trọng, có nhiều chuyển biến phức tạp. Bệnh thường liên quan đến não, phổi, thận và hệ thống máu huyết.
Chờ người: Sẽ không đến.
Tìm người: Người này đi rồi vì bất đồng ý kiến, tranh cãi hay chống đối. Hãy tìm ở hướng Bắc hoặc hướng Tây Bắc.
Vật bị mất: Đã lọt vào tay của người khác. Không dễ gì lấy được.
Du lịch: Nhiều trở ngại trên đường, sẽ không đến được nơi muốn đến. Tốt nhất hãy từ bỏ hơn là cứ cố gắng đi tiếp.
Kiện tụng và tranh chấp: Bất lợi, tốt nhất hãy hòa giải.
Việc làm: Sẽ không tìm được.
Thi cử: Điểm rất thấp.
Kinh doanh mới, thay đổi nghề nghiệp, chuyên môn hay chỗ làm: Hoàn cảnh bất lợi, khó thành công. Đừng xúc tiến.
Thời tiết: Bất định và có thể thay đổi, trời âm u và mưa.
Phần 2. Luận giải theo ngôn ngữ hiện đại
1. Tên quẻ: Thiên Thủy Tụng
2. Ý nghĩa tổng quan: Quẻ Thiên Thủy Tụng tượng trưng cho xung đột, tranh chấp và sự bất hòa. Trời (Càn) và Nước (Khảm) đối nghịch nhau, tạo nên mâu thuẫn khó hòa giải, cảnh báo về việc tránh để vấn đề leo thang căng thẳng, cần tìm cách thương lượng hoặc nhượng bộ để giữ hòa khí.
3. Hình ảnh và biểu tượng:
– Hình ảnh: “Phi ưng trục thố” (Chim ưng bay đuổi theo con thỏ) => Biểu tượng của sự truy đuổi, ganh đua không khoan nhượng.
– Tương ứng: “Thủy hỏa tương viễn” (Nước và lửa xa cách nhau) => Mâu thuẫn sâu sắc, hai bên không thể dung hòa, cần có trung gian hòa giải.
4. Luận giải từng hào:
– Hào 1 (Sơ Lục): Khởi đầu tranh chấp, chưa rõ nguồn cơn, cần xem xét trước khi hành động
– Hào 2 (Lục Nhị): Dù cảm thấy mình đang bị đẩy vào hoàn cảnh khó khăn, nhưng việc gây nên những tranh chấp sẽ không mang lại kết quả tốt, nên tìm kiếm đồng minh hoặc người giúp đỡ.
– Hào 3 (Lục Tam): Mâu thuẫn giai đoạn này gia tăng, không nên đối đầu trực diện mà hãy tìm cách tránh, chờ thời điểm thích hợp.
– Hào 4 (Lục Tứ): Nên tìm người giàu kinh nghiệm giúp đỡ để hòa giải tranh chấp, hãy chủ động đối thoại và lắng nghe
– Hào 5 (Lục Ngũ): Biết chấp nhận bỏ qua khúc mắc nếu có cơ hội hòa giải. Tranh chấp dù thắng hay thua đều tổn thất, chính vì vậy nên thỏa hiệp từ sớm.
– Hào 6 (Thượng Lục): Mâu thuẫn đạt đến đỉnh điểm, khó có thể hòa giải nếu các bên đã quá xa nhau và không thể tìm đường chung, tốt nhất nên rút lui để tránh hệ lụy lâu dài về sau.
5. Ứng dụng quẻ Tụng trong cuộc sống:
– Công danh, sự nghiệp: Có thể gặp phải tranh chấp, cạnh tranh gay gắt trong công việc, chính vì vậy cần giữ thái độ bình tĩnh, không để cảm xúc chi phối, bên cạnh đó, hợp tác và đối thoại sẽ giúp đạt được kết quả tốt hơn.
– Tài lộc: Tránh đầu tư mạo hiểm hoặc tranh giành quyền lợi, vì có thể dẫn đến thua thiệt. Thay vào đó, kiên trì và suy xét kỹ lưỡng sẽ giúp bảo toàn tài chính.
– Tình duyên, gia đạo: Có thể xảy ra mâu thuẫn hoặc hiểu lầm, để duy trì hạnh phúc, hai bên cần học cách nhường nhịn và thấu hiểu nhau.
– Sức khỏe: Căng thẳng, áp lực có thể ảnh hưởng đến sức khỏe như đau đầu, mất ngủ, Để duy trì sức khỏe thể chất và tinh thần cần giữ tâm thế bình an, tránh lo nghĩ quá nhiều.
6. Lời khuyên: Quẻ Thiên Thủy Tụng nhắc nhở chúng ta rằng tranh chấp và bất đồng là điều khó tránh khỏi trong cuộc sống, nhưng cách giải quyết thỏa đáng mới là điều quan trọng. Khi đối mặt với mâu thuẫn, hãy kiềm chế cảm xúc, tìm cách hòa giải thay vì cố chấp đối đầu. Người khôn ngoan sẽ biết lúc nào nên nhượng bộ và lúc nào nên đứng lên bảo vệ chính nghĩa. Nếu cần thiết, hãy tìm đến sự giúp đỡ từ người có kinh nghiệm để giải quyết vấn đề một cách công bằng.
Phần 3. Luận giải theo ngôn ngữ của các bậc tiên nho
1. Quẻ Thiên Thủy Tụng trong Kinh Dịch
Tổng quan Quẻ Phục Hy Thiên Thủy Tụng
Quẻ Thiên Thủy Tụng hay được gọi là Quẻ Tụng, là quẻ số 6 trong 64 Quẻ Kinh Dịch thuộc loại quẻ Hung.
Ngoại quái: ☰ Càn (乾) – Thiên (天) tức Trời – Ngũ hành Kim.
Nội quái: ☵ Khảm (坎) – Thủy (水) tức Nước – Ngũ hành Thủy.
Thuộc nhóm tượng quái Ly (Quẻ Du Hồn), Ngũ hành Hỏa.
Thoán từ
Lời kinh: 彖⽈:訟,上剛下險,險⽽健,訟.
Dịch âm: Thoán viết: Tụng, thượng cương hạ hiểm, hiểm nhi kiện, Tụng.
Dịch nghĩa: Lời Thoán nói rằng: Quẻ Tụng, trên cứng dưới hiểm, hiểm mà mạnh, là quẻ Tụng.
Giải nghĩa: Là quẻ trên cứng dưới hiểm, hiểm mà lại mạnh, lại là hiểm với mạnh tiếp nhau, trong hiểm ngoài mạnh, đều là cái cớ sinh kiện. Nếu như mạnh mà không hiểm, thì không sinh ra kiện; hiểm mà không mạnh, cũng không thể kiện; vì hiểm mà lại mạnh, nên mới thành kiện.
Tượng quẻ
Lời kinh: 象⽈:天與⽔違⾏,訟,君⼦以作事謀始.
Dịch âm: Tượng viết: Thiên dữ thủy vi hành, Tụng, Quân tử dĩ tác sự mưu thủy.
Dịch nghĩa: Lời Tượng nói rằng: Trời với nước đi trái nhau, là quẻ Tụng, đấng quân tử coi đó mà dấy việc mưu tính lúc đầu.
Giải nghĩa: Trời trên nước dưới, hai thể trái nhau mà đi, đó là cớ sinh ra kiện. Nếu như trên dưới thuận nhau, thì kiện còn bởi đâu mà sinh ra được? Đấng quân tử coi cái Tượng đó biết rằng tình người phải có tranh kiện, cho nên hễ làm việc gì, ắt phải mưu tính từ đầu, cho dứt mối kiện từ khi việc mới bắt đầu, thì kiện không bởi đâu mà sinh ra nữa. Nghĩa chữ “mưu thủy” rộng lắm, như là những việc cẩn thận giao kết, ghi rõ khế khoán v.v…
Các hào
1. Sơ Lục (Hào 1 âm):
Lời kinh: 初 六: 不 永 所 事 , 小 有 言 , 終 吉.
Dịch âm: Bất vinh sở sự, tiểu hữu ngôn, chung cát.
Dịch nghĩa: Đừng kéo dài (vụ kiện) làm gì, tuy bị trách một chút, nhưng sau được tốt.
Giải nghĩa: Hào 1, âm nhu ở dưới, được hào 4 cương kiện ở trên ứng viện, tức là có chỗ dựa; nhưng đừng nên ỷ thế sinh sự kéo dài vụ kiện; có bị trách một chút thì cũng thôi, kết quả được biện minh, thế là tốt.
2. Cửu Nhị (Hào 2 dương):
Lời kinh: 九 二: 不 克 訟 , 歸 而 逋. 其 邑 人 三 百 戶, 无 眚.
Dịch âm: Bất khắc tụng, qui nhi bô. Kì ấp nhân tam bách hộ, vô sảnh.
Dịch nghĩa: Không nên kiện, lui về mà tránh đi, ấp mình chỉ có ba trăm nóc nhà thôi (ý nói địa vị mình thấp, thế mình nhỏ), như vậy thì không bị họa.
Giải nghĩa: Trong phần I, chương IV, chúng tôi đã nói: các hào ứng với nhau (1 với 4, 2 với 5, 3 với 6) phải một dương một âm thì mới có “tình” với nhau, mới đứng vào một phe, viện trợ nhau, tức trường hợp hào 1 và hào 4 quẻ này; nếu cả hai cùng là dương hay là âm thì tuy ứng nhau đấy, nhưng có thể kỵ nhau, cũng như hào 2 và hào 5 quẻ này. Hai hào này đều là dương cả, cho nên coi là địch nhau, đứng vào hai phe ở trong quẻ tụng (kiện cáo).
Hào 2 ở dưới, trung chứ không chính, ở giữa nội quái là Khảm (hiểm) lại bị hai hào âm 1 và 3 vậy, nên thế yếu, muốn kiện hào 5 (vì 2 có tính dương cương) nhưng thế không địch nổi, vì 5 trung , chính lại ở ngôi cao. Dưới kiện trên khác gì trứng chọi đá, không nên, thà rút lui về, tránh đi còn hơn, như vậy không bị tội lỗi.
Tiểu tượng truyện còn dặn thêm: nếu dưới mà kiện trên, tai họa tới là tự mình vơ lấy đấy: hoạn chí xuyết (cũng đọc là chuyết, là đoát) dã:
Phan Bội Châu giảng hào này, dẫn việc Nguyễn Hoàng muốn kình với Trịnh Kiểm (sự thực Trịnh Kiểm muốn hại Nguyễn Hoàng, Nguyễn Hoàng sợ), cho người hỏi ý kiến Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Bỉnh Khiêm đáp: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, có ý khuyên nên trốn tránh vào Nam cho thoát nạn; đó là ý nghĩa ba chữ “qui nhi bô” trong hào này.
3. Lục Tam (Hào 3 âm):
Lời kinh: 六 三: 食 舊 德, 貞 厲, 終 吉 . 或 從 王 事 , 无 成.
Dịch âm: Thực cựu đức, trinh lệ, Chung cát; hoặc tòng vương sự, vô thành.
Dịch nghĩa: Cứ (yên ổn) hưởng cái đức (ân trạch) cũ của mình (Chu Hi hiểu là giữ cái nếp cũ), ăn ở cho chính đáng mà thường để lòng lo sợ thì kết quả sẽ tốt; nếu phải đi theo làm với người trên (chữ vương ở đây trở người trên, không nhất định là vua), thì cũng đừng mong thành công.
Giải nghĩa: Hào 3 đã âm nhu lại bất chính (vì hào âm mà ở ngôi dương, ở chông chênh trên cùng quẻ Khảm (hiểm), chung quanh đều là kẻ thích gây sự, kiện cáo (vì hào 2 và 4 đều là dương), cho nên 3 thường phải lo sợ (lệ), nếu hiểu vậy mà biết giữ gìn thì rốt cuộc sẽ yên ổn.
Hào 3 có hào 5 ở trên ứng và có “tình” với mình, 6 là dương cương lại là bề trên (ngôi cao), nên có khi lôi kéo 3 theo nó; trong trường hợp đó, 3 nên an phận thủ thường, cứ phục tùng 6, đừng mong thành công (chẳng hạn 6 muốn đứng ra kiện, kéo 3 theo thì 3 chỉ nên giúp 6 lấy lệ thôi, đừng ham lập công).
4. Cửu Tứ (Hào 4 dương):
Lời kinh: 九 四: 不克 訟 , 復 即 命, 渝 , 安 貞 吉.
Dịch âm: Bất khắc tụng, phục tức mệnh, du, an trinh cát.
Dịch nghĩa: Không thể kiện cáo được, trở lại theo thiên mệnh (lẽ chính đáng), đổi ý đi, ở yên theo điều chính thì tốt.
Giải nghĩa: Hào này dương cương mà bất trung, bất chính, “tượng” một người ham kiện cáo. Nhưng không thể kiện ai được: kiện 5 thì 5 ở trên mình, ngôi tôn, không dám kiện; kiện 3 thì 3 nhu thuận, chịu thua trước rồi; kiện 2 thì 2 vừa cương, chính , trung, sáng suốt, đã tiên liệu rồi, không chịu kiện; còn 1 thì đã về phe với 4. Đành phải bỏ ý ham kiện đi, theo lẽ phải, ở yên, giữ điều chính, như vậy thì tốt.
5. Cửu Ngũ (Hào 5 dương):
Lời kinh: 九 五: 訟, 元 吉.
Dịch âm: Tụng, nguyên cát.
Dịch nghĩa: Xử kiện hay đi kiện, đều rất tốt.
Giải nghĩa: Hào 5 này ở ngôi chí tôn, cương mà minh, trung và chính. Nếu là người xử kiện thì là bậc có đức, có tài (như Bao Công); nếu là người đi kiện thì gặp được quan tòa có đức, có tài. Không gì tốt bằng.
6. Thượng Cửu (Hào 6 dương):
Lời kinh: 上 九: 或 錫 之 鞶 帶 , 終 朝, 三 褫 之.
Dịch âm: Hoặc tích chi bàn đái, chung triêu, tam sỉ chi.
Dịch nghĩa: (kiện ) may mà được cái đai lớn (của quan chức) thì trong một buổi sáng sẽ bị cướp ba lần.
Giải nghĩa: Hào dương này ở trên cùng quẻ Tụng là kẻ rất thích kiện, kiện tới cùng. Nó ở ngôi 6 là bất chính, cho nên dù có may ra được kiện, thì chẳng bao lâu cũng sẽ mất hết, rốt cuộc vẫn không lợi.
2. Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Thiên Thủy Tụng trong chiêm bốc, đoán quẻ
Triệu và điềm của quẻ Tụng
Quẻ Tụng có triệu Nhị Nhân Tranh Lộ – Việc làm không thuận. Có bài thơ như sau:
Hai kẻ tranh đường, chẳng chịu lui,
Việc làm không thuận, phí cả công.
Giao dịch xuất hành, đều ngăn trở,
Kinh doanh góp vốn, chẳng ra gì.
Dụng thần quẻ Tụng
Quẻ Tụng thiếu một thân là Quan Quỷ Kỷ Hợi Thủy. Đây là Phục Thần của Tụng, Phi Thần là Huynh Đệ Ngọ hào tam. Ngọ Hỏa, nên Phục Thần khắc Phi Thần Thủy, đây là trường hợp “xuất bao” như dã nói ở trên.
