Ý nghĩa quẻ 25 – Thiên Lôi Vô Vọng trong Kinh dịch

Luận Giải Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Số 25 – Quẻ Thiên Lôi Vô Vọng

Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Thiên Lôi Vô Vọng
Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Thiên Lôi Vô Vọng

Phần 1. Luận đoán quẻ Vô Vọng trong cuộc sống

Ước muốn: Hành động hay cư xử thích hợp theo chuẩn tắc sẽ dẫn đến thành công. Những kiểu làm tắt hay những xoay sở không chính đáng sẽ dẫn đến thất bại.

Hôn nhân: Thành công thông qua sự thật thà, trung hậu và chân thành. Nếu đôi vợ chồng đối xử với nhau thành thật, khi đó hạnh phúc và may mắn sẽ bền vững.

Tình yêu: Thành công tùy thuộc ở thái đọ thành thật và trung hậu của cả hai.

Gia đạo: Vận may, yên bình.

Con cái: Đông con và may mắn. Nhưng không được nuông chiều chúng, đồng thời cũng không lơ là việc giáo dục và đào tạo chúng, vì như vậy là làm hại cho chúng. Thai nghén: con trai.

Vay vốn: Có thể thực hiện được theo mong muốn. Tuy nhiên những phương cách không chính đáng sẽ dẫn đến thất bại.

Kinh doanh: Làm ăn chân chính sẽ dẫn đến lợi nhuận. Nếu chỉ biết nghĩ đến việc thu lợi cho thật nhiều, tất sẽ gặp thất bại hay thua lỗ.

Chứng khoán: Giá đang tăng.

Tuổi thọ: Khỏe mạnh tự nhiên. Sẽ sống thọ.

Bệnh tật: Biết quan tâm đến việc bồi dưỡng sẽ dẫn đến bình phục. Xem thường việc điều trị phục hồi sẽ dẫn đến bất hạnh. Các bệnh nội tạng và hệ hô hấp, các rối loạn về thần kinh.

Chờ người: Người này sẽ đến.

Tìm người: Ở xa, hãy tìm hướng Đông hoặc hướng Tây Bắc.

Vật bị mất: Bị thất lạc bởi việc gì đó có liên quan đến một phụ nữ. Đang bị vùi trong chỗ tối và hẹp. Sau cùng sẽ tìm thấy.

Du lịch: Có thể được.

Kiện tụng và tranh chấp: Nếu có lý lẽ chính đáng, bạn sẽ chiến thắng. Sự kiện tụng phi lý sẽ dẫn đến thất bại.

Việc làm: Sẽ tìm được nếu quyết tâm.

Thi cử: Nghiêm chỉnh và chuyên cần sẽ dẫn đến điểm cao. Thái độ cầu may sẽ dẫn đến thất bại.

Kinh doanh mới, thay đổi nghề nghiệp, chuyên môn hay chỗ làm: Đừng cưỡng cầu. Những gì phát triển tự nhiên thì cát tường.

Thời tiết: Trời trong và có nhiều mây. Nhiều gió.

Phần 2. Luận giải theo ngôn ngữ hiện đại

1. Tên quẻ: Thiên Lôi Vô Vọng

2. Ý nghĩa tổng quan:

Quẻ Thiên Lôi Vô Vọng biểu trưng cho sự ngẫu nhiên, bất ngờ và tinh thần thuận theo tự nhiên. Trời (Thiên) ở trên, Sấm (Lôi) ở dưới, tạo nên những biến động không thể lường trước. Quẻ này khuyên con người nên buông bỏ những kỳ vọng cứng nhắc, sống chân thật và đón nhận mọi sự với tâm thế an nhiên. “Vô vọng” không có nghĩa là thụ động, mà là không cưỡng cầu, không ảo tưởng, để từ đó giữ được sự trong sáng và tránh được họa từ những toan tính sai lầm.

3. Hình ảnh và biểu tượng:

Hình ảnh: “Thiên lôi tương bộc” – Trời cao và sấm sét cùng xuất hiện, tượng trưng cho những sự kiện bất ngờ ập đến, nằm ngoài dự tính.

Biểu tượng: “Vô tâm nhi động” – Hành động thuận theo lẽ tự nhiên, không bị chi phối bởi tư tâm, tham vọng hay sự tính toán quá mức. Giữ tâm thanh tịnh để đối diện với mọi biến cố.

4. Luận giải từng hào:

Hào Sơ Cửu: Vô vọng, cát – Không mong cầu, giữ lòng chân thành ngay từ đầu thì sẽ tốt lành. Hào này khuyên bạn hãy bắt đầu mọi việc với tâm thế trong sáng, không vụ lợi, như vậy dù có gặp biến cố cũng sẽ hóa giải được.

Hào Lục Nhị: Bất canh tự, tắc hữu du, vãng lợi – Không cày cấy mà mong có thu hoạch, thì chẳng được gì. Nếu cứ hành động theo lối mòn ích kỷ (tự canh), thì khó mà thành công. Ngược lại, nếu biết buông bỏ ý định chiếm đoạt (bất canh tự) và chịu khó vun trồng (tắc hữu du), thì đi đâu cũng lợi.

Hào Lục Tam: Vô vọng chi tai, hoặc hệ chi ngưu, hành nhân chi đắc, ấp nhân chi tai – Tai họa vô cớ ập đến, như con trâu của người khác bỗng bị người qua đường lấy mất, khiến dân làng bị họa oan. Hào này cảnh báo về những rủi ro khách quan, bất ngờ rơi xuống đầu dù bản thân không gây ra. Cần giữ bình tĩnh và kiên định với sự ngay thẳng của mình.

Hào Cửu Tứ: Khả trinh, vô cữu – Có thể giữ vững sự chính trực, nên không có lỗi. Dù ở vào vị trí dễ bị ảnh hưởng bởi biến động, nhưng nếu bạn kiên định với đạo lý và nguyên tắc ngay thẳng của mình, thì sẽ vượt qua mà không tổn hại.

Hào Cửu Ngũ: Vô vọng chi tật, vật dược, hữu hỉ – Căn bệnh bất ngờ (tai họa ngoài ý muốn), đừng dùng thuốc (đừng can thiệp một cách gượng ép), rồi tự khắc sẽ có niềm vui (hóa giải). Hào này khuyên đối với những sự việc ngoài tầm kiểm soát, đôi khi cách tốt nhất là kiên nhẫn chờ đợi, để thời gian và quy luật tự nhiên xử lý, can thiệp vội vàng chỉ thêm rắc rối.

Hào Thượng Cửu: Vô vọng, hành hữu sảnh, vô du lợi – Dù không có ý xấu (vô vọng), nhưng cứ hành động (hữu sảnh) thì sẽ gặp tai vạ, không có gì là lợi cả. Ở thời điểm cuối cùng, mọi hành động có chủ ý đều trở nên nguy hiểm. Đây là lúc cần tĩnh tâm hoàn toàn, ngưng mọi sự can thiệp, để tránh “họa từ trời giáng”.

5. Ứng dụng quẻ trong cuộc sống:

Công danh, sự nghiệp: Tránh những kế hoạch mạo hiểm hay dựa trên sự may rủi. Hãy tập trung hoàn thành tốt nhiệm vụ hiện tại với thái độ chân thành, đừng quá kỳ vọng vào kết quả. Biến động có thể xảy ra, cần linh hoạt ứng phó.

Tài lộc: Không nên đầu cơ, đầu tư theo phong trào hay nghe theo tin đồn. Quản lý tài chính thận trọng, giữ vững nguồn thu nhập chính. Của bất ngờ đến cũng dễ đi.

Tình duyên, gia đạo: Trong tình cảm, cần sống thật với nhau, tránh những kỳ vọng viển vông lên đối phương. Gia đạo có thể có những mâu thuẫn bất ngờ, hãy dùng sự chân thành và bao dung để hóa giải, đừng cố chấp.

Sức khỏe: Cơ thể có thể có những dấu hiệu bất thường khó lý giải. Đừng chủ quan nhưng cũng đừng quá lo lắng. Nên đi khám tổng quát, giữ tinh thần lạc quan và sinh hoạt điều độ.

6. Lời khuyên:

Quẻ Vô Vọng dạy ta bài học về sự buông bỏ và thuận theo tự nhiên. Cuộc sống vốn dĩ đầy những điều bất ngờ ngoài tầm kiểm soát, việc ôm giữ những mong cầu, tính toán quá kỹ đôi khi chỉ khiến ta thêm mệt mỏi và dễ vấp ngã. Hãy sống và hành động với tấm lòng chân thật, ngay thẳng, làm tốt phần việc của mình trong hiện tại, rồi an nhiên đón nhận kết quả. Khi gặp nghịch cảnh bất ngờ, đừng hoảng loạn hay oán trời trách đất, hãy giữ vững tâm thế điềm tĩnh, tin rằng mọi chuyện rồi sẽ qua theo quy luật của trời đất. “Vô cầu nhi tự đắc” – không mong cầu mà vẫn đạt được, đó là cảnh giới của sự an nhiên tự tại.

Phần 3. Luận giải theo ngôn ngữ của các bậc tiên nho

1. Quẻ Thiên Lôi Vô Vọng trong Kinh Dịch

Tổng quan Quẻ Phục Hy Thiên Lôi Vô Vọng

Quẻ Thiên Lôi Vô Vọng hay được gọi là Quẻ Vô Vọng, là quẻ số 25 trong 64 Quẻ Kinh Dịch thuộc loại quẻ Hung.

Ngoại quái: ☰ Càn (乾) – Thiên (天) tức Trời – Ngũ hành Kim.

Nội quái: ☳ Chấn (震) – Lôi (雷) tức Sấm – Ngũ hành Mộc.

Thuộc nhóm tượng quái Tốn, Ngũ hành Mộc.

Thoán từ

Lời kinh: 無妄元亨, 利貞, 其匪正, 有眚, 不利有攸往.

Dịch âm: Vô vọng nguyên hanh, lợi trinh, kỳ phỉ chính, hữu sảnh, bất lợi hữu du vãng.

Dịch nghĩa: Không càn bậy thì rất hanh thông, hợp với chính đạo thì có lợi. Cái gì không hợp với chính đạo thì có hại, có lỗi, hành động thì không có lợi.

Giải nghĩa: Không càn tức là rất thành,rất thành thì là đạo trời. Ông trời biến hóa nuôi nấng các vật, muôn vật sinh sôi không cùng, vật nào nhằm đúng tính mệnh của vật ấy, đều là không càn. Người ta có thể hợp với đạo không càn, thì “hợp đức với trời đất” vậy. Không càn có lẻ cả hanh, đấng quân tử làm theo đạo không càn, thì có thể đem lại được sự cả hanh. Vậy quẻ Vô Vọng tức là đạo trời, trong quẻ cốt nói về lẽ người ta theo đạo “không càn” Lợi trinh nghĩa là cái cách bắt chước đạo không càn, lợi ở trinh chính, không trinh chính là càn, tuy không tà tâm, mà nếu không hợp chính lý thì là càn, là có tà tâm cho nên chẳng chính thì là tội lỗi. Đã không càn thì không nên có sự đi, đi thì là càn.

Tượng quẻ

Lời kinh: 象⽈: 天下雷⾏物與, 兎妄, 先王以茂對時, 育萬物. 

Dịch âm: Tượng viết: Thiên hạ lôi hành vật dữ, Vô Vọng; Tiên vương dĩ mậu đối thì, dục vạn vật. 

Dịch nghĩa: Lời Tượng nói rằng: Dưới trời sấm chạy vật được phú tính, là quẻ Vô Vọng; đấng Tiên vương coi đó mà tốt đối thì, nuôi muôn vật.

Giải nghĩa: Dưới trời sấm đi, chấn động phát sinh muôn vật, vật nào nhằm đúng tính mệnh của vật ây, đó là mỗi vật trời mỗi phú cho bằng cách không càn, đấng Tiên vương bắt chước lượng đó để đối với thì, nuôi các vật, nhân theo bản tính của nó mà không tư túi với vật nào.

Các hào

1. Sơ Cửu (Hào 1 dương):

Lời kinh: 初 九: 无妄, 往吉.

Dịch âm: Vô vọng, vãng cát.

Dịch nghĩa: Không còn bậy, mà tiến đi thì tốt.

Giảng nghĩa: Hào này dương cương, làm chủ nội quái, là người có đức, cho nên khen như vậy.

2. Lục Nhị (Hào 2 âm):

Lời kinh: 六 二: 不耕穫, 不菑畬, 則利有攸往.

Dịch âm: Bất canh hoạch, bất tri dư, tắc lợi hữu du vãng.

Dịch nghĩa: Khi cày thì không nghĩ tới lúc gặt, khi mới khai phá (tri) thì không nghĩ đến ruộng đã thuộc (dự), như vậy mà tiến tới thì có lợi.

Giảng nghĩa: Lời hào này quá vắn tắt, hơn điện tín ngày nay nữa, nên tối nghĩa, có nhiều sách cứ dịch từng chữ; không thông.
Chu công muốn bảo: Khi cày mà không nghĩ tới lúc gặt, khi mới khai phá mà không nghĩ tới khi ruộng đã thuộc, có nghĩa là thấy việc chính đáng phải làm thì làm mà không nghĩ đến cái lợi rồi mới làm, không chỉ trông mong vào kết quả, như vậy mới tốt.
Hào 2, âm, vừa trung vừa chính, ứng với hào 5 cũng trung chính; nó vốn là âm có đức thuận ở trong nội quái Chấn là động, như một người tốt hành động hợp với trung, chính, cho nên Hào từ bảo như vậy mà tiến thì có lợi.
Có lẽ chính vì ý nghĩa hào này mà Sử ký của Tư Mã Thiên chép tên quẻ là 无 望 (vô vọng :không mong) với nghĩa làm điều phải mà “không mong” có lợi, có kết quả. Hiểu như vậy cũng được.

3. Lục Tam (Hào 3 âm):

Lời kinh: 六 三: 无妄之災, 或繫之牛, 行人之得, 邑人之災.

Dịch âm: Vô vọng chi tai, hoặc hệ chi ngưu, Hành nhân chi đắc, ấp nhân chi tai.

Dịch nghĩa: Không còn bậy mà bị tai vạ tự nhiên đến như có kẻ cột con bò ở bên đường (rồi bỏ đi chỗ khác), một người đi qua (thấy bò không có ai coi), dắt trộm đi, được bò, mà người trong ấp bị nghi oan là lấy trộm bò, mà mắc họa.

Giảng nghĩa: Cả 6 hào trong quẻ này đều là không càn bậy, nhưng hào này khác một chút là bất trung, bất chính, nên bị tai vạ; tai vạ đó chỉ là vô cớ mà mắc.

4. Cửu Tứ (Hào 4 dương):

Lời kinh: 九 四: 可貞,无咎.

Dịch âm: Khả trinh, vô Cửu.

Dịch nghĩa: Nên giữ vững tư cách thì không có lỗi (hoặc: có thể giữ vững được tư cách, cho nên không có lỗi).

Giảng nghĩa: Chữ “Trinh” có hai nghĩa: chính đáng và bền. Ở đây nên hiểu là bền. Hào 4 này dương, không ứng hợp với hào nào cả. (vì hào 1 cũng là dương cương như nó), không nên họat động, nhưng nó cương kiện, có thể giữ vững được tư cách.

5. Cửu Ngũ (Hào 5 dương):

Lời kinh: 九 五: 无妄之疾, 勿藥, 有喜.

Dịch âm: Vô vọng chi tật, vật dược, hữu hỉ.

Dịch nghĩa: Không càn bậy mà vô cớ bị bệnh (gặp tai họa) thì đừng uống thuốc, sẽ hết bệnh.

Giảng nghĩa: Hào này ở địa vị cao, trung chính lại ứng với hào 2 cũng trung chính, vậy là rất tốt, chẳng may có bị bệnh (gặp tai họa) thì đừng uống thuốc (nghĩa bóng là đừng chạy chọt gì cả, cứ thản nhiên như Khổng tử khi bị giam ở đất Khuông) rồi sẽ tai qua nạn khỏi (như Khổng tử sau được thả ra, vì người Khuông nhận là rằng họ lầm ông với Dương Hổ, một người mà họ ghét.)

6. Thượng Cửu (Hào 6 dương):

Lời kinh: 上 九: 无妄, 行有眚, 无攸利.

Dịch âm: Vô vọng, hành hữu sảnh, vô du lợi.

Dịch nghĩa: Không càn bậy, nhưng đi (hành động) thì bị họa, không lợi gì.

Giảng nghĩa: Hào từ khuyên không nên hành động, mặc dầu vẫn là “vô vọng”, chỉ vì hào này tới cuối cùng của quẻ rồi, chỉ nên yên lặng chờ thời.

2. Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Thiên Lôi Vô Vọng trong chiêm bốc, đoán quẻ

Triệu và điềm của quẻ Vô Vọng

Quẻ Vô Vọng có triệu Điểu Bị Lao Lung – Tù túng buồn lo. Có bài thơ như sau:

Chim sa vào lồng, lòng lo lắng,

Tù túng buồn lo, mất tự do.

Cầu tài cầu lộc, đều không được,

Cãi cọ liên miên, bệnh tật còn.

Dụng thần quẻ Vô Vọng

Quẻ Vô Vọng có đủ Lục thân, nên không có Phi Thần và Phục Thần.