Luận Giải Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Số 26 – Quẻ Sơn Thiên Đại Súc

Phần 1. Luận đoán quẻ Đại Súc trong cuộc sống
Ước muốn: Khó khăn trong lúc này nhưng nếu không hành động khinh suất hay liều lĩnh, dần dần sẽ thành công.
Hôn nhân: Hành động tích cực sẽ dẫn đến thành công. Cả hai bên đều nghiêm túc về cuộc sống và tình yêu.
Tình yêu: Sẽ có chống đối từ thế hệ cao tuổi hơn hay từ phía thứ ba nào đó. Quyết tâm và kiên định thì hạnh phúc sẽ đến.
Gia đạo: Lúc đầu gian khó, nhưng nếu kiên trì đi theo con đường chính đáng và sốt sắng vươn lên, cơ đồ của gia đình sẽ dần dần thay đổi. Có thể hưởng được của thừa kế. Cũng có thể thành công bằng cách tự lập để bắt đầu một cuộc sống mới ở những vùng đất xa lạ.
Con cái: Những điều liên quan đến chúng sẽ khiến bạn buồn khổ, nhưng sau cùng bạn sẽ nhìn thấy chúng thành công và hạnh phúc. Thai nghén: con trai.
Vay vốn: Có những khó khăn trong lúc này nhưng dần dần sẽ thành công.
Kinh doanh: Lợi nhuận đáng kể trong 30 ngày đầu tiên và trong 3 tháng cuối.
Chứng khoán: Giá sẽ giảm trong một thời gian, sau đó sẽ tăng.
Tuổi thọ: Nhiều bệnh tật lúc còn trẻ. Về sau khỏe mạnh và sống thọ.
Bệnh tật: Nặng và kéo dài. Các bệnh liên quan đến ngực và bụng.
Chờ người: Lúc này sẽ không đến, nhưng sẽ đến sau một thời gian nữa.
Tìm người: Sẽ mất khá nhiều thời gian. Sau đó người này hoặc sẽ tự động trở về, hoặc sẽ tìm được. Hãy tìm ở hướng Tây Bắc hoặc Đông Bắc.
Vật bị mất: Bị đặt không đúng chỗ bên dưới cái gì đó. Sẽ mất thời gian nhưng tìm được. Hãy tìm ở hướng Đông Bắc.
Du lịch: Những trở ngại thình lình và ngoài dự tính.
Kiện tụng và tranh chấp: Khó khăn và mất thời gian. Nhưng sau cùng sẽ giành được chiến thắng hay kết quả thuận lợi.
Việc làm: Sẽ tốn thời gian nhưng sớm muộn cũng sẽ tìm được công việc tốt.
Thi cử: Điểm cao.
Kinh doanh mới, thay đổi nghề nghiệp, chuyên môn hay chỗ làm: Cát tường.
Thời tiết: Rất xấu, nhưng sau đó sẽ quang đãng.
Phần 2. Luận giải theo ngôn ngữ hiện đại
1. Tên quẻ: Sơn Thiên Đại Súc
2. Ý nghĩa tổng quan:
Quẻ Sơn Thiên Đại Súc tượng trưng cho sự tích lũy lớn lao, cả về vật chất lẫn tinh thần và tri thức. Núi (Sơn) bao bọc, che chở cho Trời (Thiên), biểu thị sự ngưng tụ, chứa đựng và dưỡng dục năng lượng để chuẩn bị cho một bước phát triển vĩ đại. Quẻ này khuyên con người cần biết dừng lại để thu nạp, học hỏi, rèn luyện bản lĩnh và tích trữ nguồn lực, chờ thời cơ chín muồi mới hành động. Đây là quẻ của sự chuẩn bị kỹ càng, kiên nhẫn và nội lực vững vàng.
3. Hình ảnh và biểu tượng:
Hình ảnh: “Thiên tại sơn trung” – Trời nằm trong núi, tượng trưng cho tài năng, đức độ và năng lượng tiềm ẩn đang được bảo vệ và nuôi dưỡng trong một không gian an toàn, kín đáo.
Biểu tượng: “Đại súc, lợi trinh” – Sự tích lũy lớn, có lợi cho việc giữ vững sự chính bền. Cần phải kiên định với mục tiêu và nguyên tắc trong suốt quá trình dưỡng sức, chờ đợi này.
4. Luận giải từng hào:
Hào Sơ Cửu: Hữu lợi, dĩ kỷ – Gặp nguy hiểm, nên dừng lại. Ở bước đầu, gặp trở ngại là tín hiệu cho thấy bạn cần dừng bước để quan sát và củng cố lại bản thân, đừng cố gắng tiến lên khi chưa đủ lực.
Hào Cửu Nhị: Dư thuyết phúc – Cái trục xe bị tuột khỏi bánh xe. Hào này cảnh báo dù đã có sự tích lũy ban đầu, nhưng nếu không biết cách “ghép nối” và vận hành các nguồn lực cho ăn khớp, thì mọi thứ có thể đổ vỡ, công sức bỏ ra thành vô ích. Cần có kế hoạch phối hợp nhịp nhàng.
Hào Cửu Tam: Lương mã trục, lợi thiệp xuyên cấp, nhật nguyệt kỳ hộ, lợi hữu du vãng – Những con ngựa tốt đuổi theo nhau (cùng tiến), có lợi trong việc vượt sông vượt hiểm, mỗi ngày rèn luyện phòng thủ, thì tiến lên sẽ có lợi. Hào này khích lệ việc cùng những người tài giỏi, đồng chí hướng (lương mã) rèn luyện và chuẩn bị kỹ lưỡng (nhật nguyệt kỳ hộ) để cùng nhau vượt qua thử thách lớn.
Hào Lục Tứ: Đồng ngưu chi cố, nguyên cát – Cái khung che tránh sừng của con bò non, rất tốt lành. Hào này tượng trưng cho sự phòng ngừa từ sớm, bảo vệ những tiềm năng non trẻ (bò non) khỏi những tổn thương không đáng có (va chạm). Đây là giai đoạn quan trọng của việc xây dựng nền tảng an toàn và kỷ luật.
Hào Lục Ngũ: Phẫn thỉ chi nha, cát – Heo sề bị thiến (mất đi tính hung hăng), thì tốt lành. Ý nói cần phải chế ngự, loại bỏ những thói xấu, dục vọng thái quá hay sự nông nổi (tính hung của heo) trong quá trình tích lũy. Sự thuần hóa bản thân này là điều kiện để tích lũy thành công.
Hào Thượng Cửu: Hà thiên chi cù, hanh – Con đường rộng lớn thông suốt như bầu trời, hanh thông. Khi đã trải qua quá trình tích lũy, rèn luyện và loại bỏ những cái xấu, bạn đã đạt đến cảnh giới cao, nội lực dồi dào. Lúc này, con đường phía trước mở ra thênh thang, mọi sự hanh thông, có thể thực hiện được đại sự.
5. Ứng dụng quẻ trong cuộc sống:
Công danh, sự nghiệp: Đây là thời kỳ “tích tiểu thành đại”, cần chuyên tâm học hỏi, nâng cao chuyên môn, xây dựng uy tín và mối quan hệ vững chắc. Tránh nhảy việc hay khởi nghiệp nóng vội. Hãy là người “ẩn mình chờ thời” giỏi nhất.
Tài lộc: Rất tốt cho việc tích lũy tài sản, tiết kiệm và đầu tư dài hạn. Tuy nhiên, cần kỷ luật chi tiêu, tránh những khoản đầu tư mạo hiểm, “tham thì thâm”. Của tích lũy được cần được bảo vệ cẩn thận.
Tình duyên, gia đạo: Đây là lúc xây dựng nền tảng gia đình vững chắc, tích lũy tình cảm và sự thấu hiểu. Vợ chồng nên cùng nhau lập kế hoạch tương lai, tiết kiệm cho những mục tiêu chung. Tình yêu cần thời gian để vun đắp mới bền vững.
Sức khỏe: Tốt cho việc dưỡng sinh, tăng cường thể lực và sức đề kháng từ từ. Có thể luyện tập các môn cần sự bền bỉ. Chú ý bổ sung dinh dưỡng đầy đủ và nghỉ ngơi hợp lý để “tích trữ” năng lượng.
6. Lời khuyên:
Quẻ Đại Súc dạy ta giá trị của sự kiên nhẫn và nền tảng vững chắc. Thành công vĩ đại không bao giờ là kết quả của một sớm một chiều, mà là cả một quá trình dài tích lũy âm thầm, rèn giũa bản thân và chờ đợi thời cơ. Đừng vội ngắm nhìn đỉnh cao mà quên đi việc xây từng bậc thang. Hãy biết dừng lại đúng lúc để học, để ngẫm, để củng cố thế đứng của mình. Hãy bao bọc và nuôi dưỡng những tiềm năng như ngọn lửa nhỏ, đừng để nó bị dập tắt bởi những cơn gió nóng vội. Khi bạn đã trở thành “núi” đủ lớn để chứa đựng cả “trời” – tức là khi nội lực, tri thức và nguồn lực đã đầy đủ – thì tự khắc, thời cơ sẽ mở ra, và con đường trước mắt sẽ rộng thênh thang như bầu trời. Hãy nhớ: “Đại khí vãn thành” – báu vật lớn thường thành hình muộn.
Phần 3. Luận giải theo ngôn ngữ của các bậc tiên nho
1. Quẻ Sơn Thiên Đại Súc trong Kinh Dịch
Tổng quan Quẻ Phục Hy Sơn Thiên Đại Súc
Quẻ Sơn Thiên Đại Súc hay được gọi là Quẻ Đại Súc, là quẻ số 26 trong 64 Quẻ Kinh Dịch thuộc loại quẻ Cát.
Ngoại quái: ☶ Cấn (艮) – Sơn (山) tức Núi – Ngũ hành Thổ.
Nội quái: ☰ Càn (乾) – Thiên (天) tức Trời – Ngũ hành Kim.
Thuộc nhóm tượng quái Cấn, Ngũ hành Thổ.
Thoán từ
Lời kinh: 大畜利貞, 不家食, 吉, 利涉大川.
Dịch âm: Đại Súc lợi trinh, bất gia thực, cát, lợi thiệp đại xuyên.
Dịch nghĩa: Chứa lớn: Chính đáng (theo chính đạo) thì lợi. Không phải ăn cơm nhà (tức được hưởng lộc của vua), tốt; vượt qua sông lớn (làm việc khó khăn, gian nguy để giúp nước) thì lợi.
Giải nghĩa: Lớn tức là Dương, lấy Cấn chứa Kiền, lại là sự chứa to lớn. Lại nữa, trong là thể Kiền cứng mạnh, ngoài là thể Cấn dày đặc sáng sủa, cho nên có thể mỗi ngày mỗi làm cho đức của mình mới ra, mà thành sự chứa to lớn. Nói về sự biến hóa của quẻ, thì quẻ này do ở quẻ Nhu đi lại, hào Chín bởi tự hào Năm đi lên. Nói về thể quẻ, thì hào Sáu Năm tôn mà chuộng nó. Nói về đức quẻ, thì nó ngăn được sự mạnh. Bấy nhiêu điều đó, không phải là bậc cả chính thì không làm nổi. Cho nên lời Chiêm của nó là lợi về đường chính, không ăn ở nhà thì tốt. Lại, hào Sáu Năm dưới ứng với Kiền là ứng vớí trời, cho nên lời Chiêm của nó lại là lợi sang sông lớn. Chẳng ăn ở nhà nghĩa là ăn lộc ở triều, không ăn ở nhà.
Tượng quẻ
Lời kinh: 象⽈夺⼭中,⼤事,事以多識前會往⾏,以畜莫德.
Dịch âm: Tượng viết: Thiên tại sơn trung, Đại Súc, quân tử dĩ đa chí tiền ngôn vãng hạnh, dĩ súc kỳ đức.
Dịch nghĩa: Lời Tượng nói rằng: Trời ở trong núi, là quẻ Đại Súc, đấng quân tử coi đó mà ghi nhiều lời trước, nết xưa, để nuôi đức mình.
Giải nghĩa: Trời là vật rất lớn mà ở trong núi, đó là Tượng “thửa chứa rất lớn” đấng quân tử coi Tượng đó mà làm cho lớn cái chứa đựng của mình. Sự chứa đựng của người ta bởi học mà lớn, cốt ở nghe nhiều lời nói và việc làm của các thánh hiền đời xưa, khảo nghiệm để xem sự dùng của họ, xét lời họ để tìm bụng họ, ghi cho được những cái ấy để nuôi nên cái đức của mình, đó là nghĩa “đại súc”.
Các hào
1. Sơ Cửu (Hào 1 dương):
Lời kinh: 初 九: 有厲.利已.
Dịch âm: Hữu lệ, lợi dĩ.
Dịch nghĩa: Có nguy, ngưng lại thì lợi.
Giảng nghĩa: Hào này cương kiện, muốn tiến lên nhưng bị hào 4, âm ở trên chặn lại (trong các hào, súc có nghĩa là ngăn chứ không có nghĩa là chứa), nếu cố tiến thì nguy, ngưng lại thì tốt.
2. Cửu Nhị (Hào 2 dương):
Lời kinh: 九 二: 輿說輹.
Dịch âm: Dư thoát phúc.
Dịch nghĩa: Như chiếc xe đã tháo cái trục.
Giảng nghĩa: Hào này cũng bị hào 5, âm, ngăn lại như hào 1, nhưng vì đắc trung (ở giữa nội quái), nên biết tự ngăn mình (như tự tháo cái trục xe ra) để thôi không đi. Như vậy không có lỗi.
3. Cửu Tam (Hào 3 dương):
Lời kinh: 九 三: 良馬逐; 利艱貞.日閑輿衛, 利有攸往.
Dịch âm: Lương mã trục; lợi gian trinh, Nhật nhàn dư vệ, lợi hữu du vãng.
Dịch nghĩa: Như hai con ngựa tốt chạy đua nhau; phải chịu khó giữ đạo chính thì có lợi, lại phải thường ngày luyện tập, dự bị các đồ hộ thân thì tiến lên mới có lợi.
Giảng nghĩa: Chúng ta để ý: hai hào 1, 2 đều là dương cương mà đều bị hai hào âm nhu (4 và 5) ngăn cản, vì tuy cương mà ở trong nội quái (quẻ dưới), cũng như các tướng tài năng phải phục tùng Võ Hậu, Từ Hi Thái Hậu. Không phải thời nào dương cũng thắng âm cả đâu. Tới hào 3 này, may được hào trên cùng cũng là dương, ứng với mình như một đồng chí, cho nên cả hai hăng hái như hai con ngựa tốt đua nhau chạy; nhưng hăng quá mà không nhớ rằng trên đường gặp nhiều gian nan, không luyện tập đề phòng hàng ngày thì không tiến được xa, nên Hào từ khuyên như trên.
4. Lục Tứ (Hào 4 âm):
Lời kinh: 六 四: 童牛之牿, 元吉.
Dịch âm: Đồng ngưu chi cốc, nguyên cát.
Dịch nghĩa: Như con bò mộng còn non, mới nhú sừng, đặt ngay mảnh gỗ chặn sừng nó, thì rất tốt.
Giảng nghĩa: Trong quẻ Đại súc, hào âm này vẫn ngăn chặn được hào 1, dương, vì tuy nó âm nhu, nhưng hào 1 ở đầu quẻ là dương còn non, như con bò mộng mới nhú sừng, nếu kịp thời ngăn cản ngay, chặn sừng nó lại thì không tốn công mà có kết quả rất tốt. đại ý là phải đề phòng ngay từ khi họa mới có mòi phát.
5. Lục Ngũ (Hào 5 âm):
Lời kinh: 六 五: 豶豕之牙, 吉.
Dịch âm: Phần thỉ chi nha, cát.
Dịch nghĩa: Như thể ngăn cái nanh con heo đã thiến thì tốt.
Giảng nghĩa: Hào 2 là dương đã già giặn, không non nớt như hào 1, cho nên dữ hơn 1, ví như nanh con heo (rừng). Hào 5 muốn chặn nó, mà chỉ bẻ nanh con heo thôi thì nó vẫn con hung; tốt hơn hết là thiến nó để cho nó hết dữ, lúc đó dù nó còn nanh cũng không hay cắn nữa. Hào 5, chặn được hào 2 là nhờ cách đó, trừ tận gốc, không tốn công mà kết quả tốt.
6. Thượng Cửu (Hào 6 dương):
Lời kinh: 上 九: 何天之衢, 亨.
Dịch âm: Hà thiên chi cù, hanh.
Dịch nghĩa: Sao mà thông suốt như dương trên trời vậy.
Giảng nghĩa: Tới hào này là thời gian cản đã cùng rồi, hết trở ngại, đường thật rộng lớn, bát ngát như đường trên trời. Có nghĩa là đại lớn được thi hành.
2. Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Sơn Thiên Đại Súc trong chiêm bốc, đoán quẻ
Triệu và điềm của quẻ Đại Súc
Quẻ Đại Súc có triệu Trận Thế Đắc Khai – Không còn trở ngại. Có bài thơ như sau:
Quẻ này lục hợp, thật là hay,
Cãi cọ mất dần, bệnh tật tan.
Hôn nhân góp vốn, đều như ý,
Cầu tài cầu lộc, được hanh thông.
Dụng thần quẻ Đại Súc
Quẻ Đại Súc thiếu hai hào: Phụ Mẫu Hỏa và Tử Tôn Kim. Phụ Mẫu Bính Ngọ phục ở hào 3 Giáp Dần Quan Quỷ Mộc và Tử Tôn Bính Thân phục ở hào 4 Giáp Thìn Huynh Đệ Thổ. Trường hợp thứ nhất Phi Thần Mộc Sinh Phục Thần Hỏa, nên Phục Thần được xuất hiện.
Trường hợp thứ hai: Phi Thần Thổ Sinh Phục Thần Kim, cũng là “Phi lai sinh Phục”, Phục Thần cũng được xuất hiện.
