Ý nghĩa quẻ 27 – Sơn Lôi Di trong Kinh dịch

Luận Giải Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Số 27 – Quẻ Sơn Lôi Di

Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Sơn Lôi Di
Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Sơn Lôi Di

Phần 1. Luận đoán quẻ Di trong cuộc sống

Ước muốn: Trở thành hiện thực sau những khó khăn ban đầu.

Hôn nhân: Phải tìm hiểu kỹ sức khỏe của bên kia trước khi quyết định có nên tiến tới hay không. Thành công tùy thuộc thiện ý của hai bên.

Tình yêu: Đã đạt đến giai đoạn hẹn hò và tìm hiểu lẫn nhau. Cảm xúc và cảm nghĩ có thể che mờ phán đoán. Có thể bạn đang đặt ra những yêu cầu quá cao. Hãy điềm tĩnh và có sự đánh giá mới, nhạy bén.

Gia đạo: Thời sa sút. Danh dự và tiếng tăm bị mất, phá sản – giai đoạn cay đắng. Phải điềm tĩnh đánh giá cảnh ngộ và lời nói, hành vi cũng như kế hoạch của mình để làm thay đổi vận mệnh của gia đình.

Con cái: Sự nuông chiều đã làm hại chúng. Phải xem xét lại hành động lẫn lời nói của mình, và sửa đổi phương pháp giáo dục cũng như việc huấn luyện con cái. Thai nghén: con gái.

Vay vốn: Thành công sau những khó khăn ban đầu.

Kinh doanh: Hãy nghiên cứu kỹ các cơ hội kinh doanh, và hãy hết sức thành tín trong việc làm. Đừng xảo quyệt hay tham lam. Lúc đó lợi nhuận sẽ đến.

Chứng khoán: Giá thấp, sau đó sẽ tăng.

Tuổi thọ: Ăn uống quá độ sẽ làm hại sức khỏe và gây ra đoản thọ. Hãy sống thật điều độ mỗi ngày và biết chăm sóc thân thể.

Bệnh tật: Nguy hiểm. Khi điều trị bệnh phải có sự chăm sóc đặc biệt. Những cơ quan bị bệnh – dạ dày và ruột, răng, cổ họng.

Chờ người: Sẽ không đến.

Tìm người: Không ở xa, đang trốn tránh hay cư ngụ ở đâu đó gần nhà.

Vật bị mất: Bị đặt sai chỗ trong nhà. Ở bên dưới vật gì đó. Hãy tìm từ hướng Đông sang hướng Đông Bắc.

Du lịch: Lúc đầu không suôn sẻ, nhưng rất mỹ mãn về sau.

Kiện tụng và tranh chấp: Bất lợi, tốt nhất hãy tìm cách hòa giải.

Việc làm: Nỗ lực chuyên cần thì sẽ thành công.

Thi cử: Điểm cao.

Kinh doanh mới, thay đổi nghề nghiệp, chuyên môn hay chỗ làm: Không phải lúc thích hợp. Hãy chờ đến lúc thích hợp hơn.

Thời tiết: Nhiều mây.

Phần 2. Luận giải theo ngôn ngữ hiện đại

1.Tên quẻ: Sơn Lôi Di

2. Ý nghĩa tổng quan:

Quẻ Sơn Lôi Di tượng trưng cho sự nuôi dưỡng, chăm sóc và duy trì sự sống. Trên là Núi (Sơn) – tĩnh lặng, bền vững; dưới là Sấm (Lôi) – chấn động, sinh sôi. Hình ảnh này gợi lên sự kết hợp giữa nguồn dinh dưỡng ổn định (núi) và sức sống bung tỏa (sấm). Quẻ này nhấn mạnh đến việc nuôi dưỡng cả thể chất lẫn tinh thần, không chỉ cho bản thân mà còn cho người khác. Đó là nghệ thuật của sự chăm sóc, giáo dục và duy trì những giá trị cốt lõi.

3. Hình ảnh và biểu tượng:

Hình ảnh: “Sơn hạ hữu lôi” – Dưới chân núi có sấm, tượng trưng cho nguồn dinh dưỡng, sự chăm sóc (núi) đang nuôi dưỡng và thúc đẩy sự sinh trưởng, hoạt động (sấm).

Biểu tượng: “Tự cường bất tức” – Tự mình nuôi dưỡng, không ngừng nghỉ. Biểu tượng của sự tự lực, tự rèn luyện bản thân và sự kiên trì bền bỉ trong hành trình dưỡng sinh, dưỡng trí, dưỡng đức.

4. Luận giải từng hào:

Hào Sơ Cửu: Xả nhĩ linh quy, quan ngã đoản di, hung – Bỏ đi con rùa linh thiêng của bạn, mà nhìn ta múa may (đoản di – nuôi dưỡng thiếu sót), là xấu. Hào này cảnh báo việc từ bỏ những phương pháp, nguyên tắc nuôi dưỡng căn bản, đã được chứng minh (linh quy) để chạy theo những thứ hào nhoáng, phù phiếm (đoản di). Kết quả là sự nuôi dưỡng lệch lạc, dẫn đến nguy hại.

Hào Lục Nhị: Điên di, vu kinh, vu khuê, chinh hung, thập niên vật dụng – Nuôi dưỡng điên đảo, trái lẽ thường. Giống như leo lên đỉnh cao (kinh) để tìm thức ăn, hay xuống vực sâu (khuê) để tìm sữa. Hành động như vậy là xấu, trong mười năm cũng không nên dùng cách này. Hào này phê phán những cách thức nuôi dưỡng ngược đời, phi thực tế, không dựa trên nhu cầu và điều kiện thực tế, chỉ chuốc lấy thất bại kéo dài.

Hào Lục Tam: Phạn di, trinh hung, thập niên vật dụng, vô du lợi – Từ chối sự nuôi dưỡng chính đáng (phạn di – bỏ đói). Cố chấp giữ thái độ này là xấu, mười năm cũng không nên, chẳng ích lợi gì. Hào này cảnh báo thái độ cực đoan ngược lại: từ chối tiếp nhận sự nuôi dưỡng, giúp đỡ cần thiết (về vật chất, tri thức hay tinh thần) vì sự kiêu ngạo, cứng nhắc hay nghi ngờ.

Hào Lục Tứ: Điên di, cát. Hổ thị đam đam, kỳ dục trục trục, vô cửu – Ngước lên tìm kiếm sự nuôi dưỡng (từ người trên, từ các bậc hiền triết), là tốt. Như ánh mắt chăm chú của con hổ (hổ thị), khát khao mãnh liệt (kỳ dục trục trục) muốn đạt được điều đó, thì không có lỗi. Hào này khuyến khích việc chủ động tìm kiếm sự nuôi dưỡng, giáo dục từ những nguồn cao quý, với sự tập trung và khát vọng mạnh mẽ.

Hào Lục Ngũ: Li kinh, cư trinh, cát. Bất khả xạ du, thượng hạ thuận dã – Vi phạm nguyên tắc thông thường (li kinh), nhưng biết giữ vững đạo lý căn bản (cư trinh), vẫn tốt. Không thể tiến hành việc lớn (xạ du), vì trên dưới đều thuận theo nhau (cần ổn định). Hào này nói về một người ở vị trí lãnh đạo, đôi khi phải có những phương pháp nuôi dưỡng, chăm sóc đặc biệt, khác thường (li kinh), nhưng vì mục đích chính đạo và giữ được cốt lõi, nên vẫn tốt. Tuy nhiên, đây không phải lúc để mở mang lớn.

Hào Thượng Cửu: Do di, lệ cát, lợi thiệp đại xuyên – Từ chính mình mà nuôi dưỡng (tự lực, tự cường), gặp nguy hiểm mà vẫn tốt, có lợi cho việc vượt sông lớn (vượt qua thử thách trọng đại). Hào này ca ngợi đỉnh cao của sự nuôi dưỡng: sự tự lập, tự chủ hoàn toàn. Dù gặp hiểm nguy, nhưng nhờ vào nội lực và đức độ tự vun đắp, bạn vẫn có thể vượt qua và thành công trong những sự nghiệp lớn lao.

5. Ứng dụng quẻ trong cuộc sống:

Công danh, sự nghiệp: Cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng năng lực bản thân và đội ngũ. Tìm kiếm người thầy, người cố vấn giỏi. Tránh những phương pháp làm việc thiếu căn bản, hời hợt. Sự nghiệp bền vững được xây từ nền tảng vững chắc.

Tài lộc: Tài chính cần được “nuôi dưỡng” từ từ bằng các kênh an toàn, chính đáng. Chi tiêu hợp lý cho các nhu cầu thiết yếu và đầu tư vào tri thức. Tránh các hình thức “nuôi” tiền nhanh, bất chính.

Tình duyên, gia đạo: Trọng tâm là sự chăm sóc, vun đắp tình cảm gia đình. Cha mẹ nuôi dạy con cái có phương pháp, vợ chồng quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Tình yêu cần được “nuôi” bằng sự thấu hiểu và hy sinh.

Sức khỏe: Đây là quẻ rất tốt cho việc dưỡng sinh. Chú ý chế độ ăn uống đầy đủ, cân bằng dinh dưỡng (nuôi dưỡng thể chất) và rèn luyện tinh thần lạc quan (nuôi dưỡng tâm hồn). Phòng bệnh hơn chữa bệnh.

6. Lời khuyên:

Quẻ Di dạy ta rằng, sự sống và thành công cần được nuôi dưỡng một cách đúng đắn và kiên trì. Hãy nuôi dưỡng bản thân bằng tri thức chân chính và đạo đức, nuôi dưỡng gia đình bằng tình yêu thương và trách nhiệm, nuôi dưỡng sự nghiệp bằng tài năng và sự chính trực. Đừng tìm kiếm những con đường tắt hay những phương thức phi tự nhiên; hãy tôn trọng các quy luật cơ bản của sự sinh trưởng. Hãy như ngọn núi vững chãi cung cấp nguồn dinh dưỡng, và như tiếng sấm mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển. Nhớ rằng, “nuôi” đúng cách thì mới có thể “dưỡng” thành công. Khi bạn đã tự nuôi dưỡng được một nội lực vững vàng, bạn sẽ sẵn sàng vượt qua mọi con sông lớn của số phận.

Phần 3. Luận giải theo ngôn ngữ của các bậc tiên nho

1. Quẻ Sơn Lôi Di trong Kinh Dịch

Tổng quan Quẻ Phục Hy Sơn Lôi Di 

Quẻ Sơn Lôi Di hay được gọi là Quẻ Di, là quẻ số 27 trong 64 Quẻ Kinh Dịch thuộc loại quẻ Cát Hanh.

Ngoại quái: ☶ Cấn (艮) – Sơn (山) tức Núi – Ngũ hành Thổ.

Nội quái: ☳ Chấn (震) – Lôi (雷) tức Sấm – Ngũ hành Mộc.

Thuộc nhóm tượng quái Tốn (Quẻ Du Hồn), Ngũ hành Mộc

Thoán từ

Lời kinh: 頤貞吉, 觀頭, ⾃求⼜實.

Dịch âm: Di Trinh cát. Quan Di. Tự cầu khẩu thật.

Dịch nghĩa: Nuôi: hễ đúng chính đạo thì tốt. Xem cách nuôi người và tự nuôi mình.

Giải nghĩa: Di là chỗ cạnh miệng, miệng ăn đồ ăn để tự nuôi, cho nên mới là nghĩa nuôi. Nó là quẻ trên dưới hai hào Dương, trong ngậm bốn hào Âm, ngoài đặc, trong rỗng, trên đậu dưới động, là Tượng cái mép, và nghĩa sự nuôi. Trinh cát nghĩa là kẻ xem được chính thì tốt. Quan Di nghĩa là xem cách thửa nuôi. Tự cầu khẩu thực nghĩa là xem xét thuật nuôi mình, hễ đều được chính thì tốt. 

Tượng quẻ

Lời kinh: 象⽈: ⼭下有雷, 頤, 君⼦以慎⾔語, 節飲⾷. 

Dịch âm: Tượng viết: Sơn hạ hữu lôi, Di, Quân tử dĩ thận ngôn ngữ, tiết ẩm thực. 

Dịch nghĩa: Lời Tượng nói rằng: Dưới núi có sấm, là quẻ Di, đấng quân tử coi đó mà cẩn thận nói năng, dè dặt uống ăn. 

Giải nghĩa: Lấy hai thể mà nói, dưới núi có sấm động ở dưới núi, sinh vật ở trên núi đều động ở rễ vỏ, mọc mầm mếng, là Tượng sự nuôi. Lấy nghĩa trên dưới mà nói, Cấn đậu mà Chấn động, trên đậu dưới động, là Tượng mép cằm. Lấy hình quẻ mà nói, trên dưới hai hào Dương, giữa ngậm bốn hào Âm, ngoài đặc trong rỗng, là Tượng mép miệng. Miệng là cái để nuôi thân, cho nên đấng quân tử coi Tượng của nó mà nuôi mình, cẩn thận nói năng để nuôi đức hạnh, dè dặt ăn uống để nuôi thân thể. Câu đố chẳng những theo Tượng cái miệng lấy nghĩa sự nuôi mà thôi, việc rất gần mà quan hệ rất lớn, cũng không gì hơn nói năng ăn uống. 

Các hào

1. Sơ Cửu (Hào 1 dương):

Lời kinh: 初 九: 舍爾靈龜, 觀我朵頤, 凶.

Dịch âm: Xã nhỉ linh qui, quan ngã đóa di, hung.

Dịch nghĩa: Chú bỏ con rùa thiêng (tượng trưng phần tinh thần quí báu) của chú đi mà cứ ngó ta, tới xệ mép xuống, xấu.

Giảng nghĩa: Chúng ta nên để ý: nội quái là Chấn, có nghĩa là động, cho nên cả ba hào đều diễn cái ý mình đi cầu cạnh người .
Hào 1 này dương cương, khôn lanh, nhưng ứng với hào 4 âm, có thế lực ở trên hăm hở theo âm đến nỗi bỏ thiên lí, thèm thuồng cầu ăn ở người khác (hào 4) để nuôi xác thịt, mà quên phần tinh thần của mình (nó quí như con rùa thiêng chỉ sống bằng khí trờii) như vậy rất xâu. Hai chữ “đóa di”, thòng mép xuống, cực tả sự bỉ ổi của bọn người chỉ ham ăn, nói rộng ra là bọn bị tư dục mê hoặc đến mất cả liêm sỉ.

2. Lục Nhị (Hào 2 âm):

Lời kinh: 六 二: 顛頤, 拂經, 于丘 頤, 征凶.

Dịch âm: Điên di, phất kinh, vu khâu di, chinh hung.

Dịch nghĩa: Đảo lộn cách nuôi mình, trái với lẽ thường, cầu sự nuôi dưỡng ở gò cao, tiến lên thì xấu.

Giảng nghĩa: Hào này âm nhu, không tự sức nuôi mình được, nên phải cầu ăn với hai hào dương 1 và 6. nhưng hào 1 ở dưới mình, như vậy là người trên xin ăn người dưới, đảo lộn rồi, trái lẽ thường (kinh) rồi; còn như cầu ăn ở hào trên cùng (ví như cái gò cao), tì hào này không ứng với 2, 2 sẽ bị từ chối, bị khinh mà mắc nhục.
Nên để ý: theo thường lệ, hào 2 này đắc trung, chính thì tốt mà đây lại xấu, vì ý nghĩa của quẻ nuôi dưỡng, mà hào này lại không đủ sức tự dưỡng được.

3. Lục Tam (Hào 3 âm):

Lời kinh: 六 三: 拂頤, 貞凶.十年勿用无攸利.

Dịch âm: Phật di, trinh hung. Thập niên vật dụng vô du lợi.

Dịch nghĩa: Cách nuôi trái hẳn với chính đạo, xấu. Mười năm (có nghĩa là tới cùng) cũng không tốt được không làm nên gì.

Giảng nghĩa: Hào này âm nhu, bất trung, bất chính, lại hay động (vi ở trên cùng nội quái Chấn) không chịu ngồi yên, thấy đâu có ăn là đâm đầu vào. Rất xấu – Về hai chữ “thập niên” chúng ta đã giảng ở hào cuối cùng của quẻ Phục.

4. Lục Tứ (Hào 4 âm):

Lời kinh: 六 四: 顛頤, 吉.虎視眈眈, 其欲逐逐, 无咎.

Dịch âm: Điên di, cát. Hổ thị đam đam, kì dục trục trục, vô Cửu.

Dịch nghĩa: Đảo lộn cách nuôi mà tốt. Mắt hổ nhìn đăm đăm, lòng ham muốn day dứt không ngớt, không có lỗi.

Giảng nghĩa: Hào này âm nhu đắc chính, ở vào địa vị cao, được hào 5 chí tôn tương đắc với mình (cùng là âm cả) lại thêm có hào 1 dương ứng với mình, như vậy là người trên biết trọng đạo nghĩa, biết hạ mình cầu người dưới (hào 1) nuôi mình; tuy là điên đảo, trái lẽ thường đấy, nhưng vì là người tốt (đắc chính), cầu 1 giúp mình để mình lập nên sự nghiệp san sẽ giúp đỡ dân chúng, cho nên vẫn là tốt.
Nhưng phải chuyên nhất, không gián đoạn (như mắt hổ nhìn đăm đăm, ham muốn không ngớt), cứ tiếp tục cầu 1 giúp hoài thì mới có kết quả, không có lỗi.
Cầu nuôi ở hào này là cầu nuôi về tinh thần, chứ không phải về thể xác.

5. Lục Ngũ (Hào 5 âm):

Lời kinh: 六 五: 拂經, 居貞, 吉.不可涉大川.

Dịch âm: Phật kinh, cư trinh, cát. Bất khả thiệp đại xuyên.

Dịch nghĩa: Trái lẽ thường, bền chí giữ đạo chính thì tốt. Không thể vượt sông lớn được.

Giảng nghĩa: Hào này như một vị nguyên thủ, có trách nhiệm nuôi người, nhưng vì âm nhu, kém tài, nên phải nhờ người (tức hào trên cùng) nuôi mình (giúp đỡ mình); tuy là trái lẽ thường, nhưng cứ bền chí, giữ đạo chính thì tốt; vì nhờ người khác giúp đỡ để mình làm trọn nhiệm vụ nuôi dân.
Tuy nhiên, vì tài kém (âm nhu), làm việc lớn gian hiểm không nổi, nên Hào từ khuyên: không thể qua sông lớn được.
Cầu nuôi ở hào này cũng là cầu nuôi về tinh thần.

6. Thượng Cửu (Hào 6 dương):

Lời kinh: 上 九: 由頤, 厲吉, 利涉大川.

Dịch âm: Do di, lệ cát. Lợi thiệp đại xuyên.

Dịch nghĩa: Thiên hạ nhờ mình mà được nuôi, trách nhiệm mình lớn như vậy, mình phải thường lo lắng, sợ hãi thì được tốt. Qua sông lớn được.

Giảng nghĩa: Hào này dương cương mà ở trên cùng, như bậc làm thầy cho vị nguyên thủ, vị nguyên thủ nhờ mình mà nuôi được thiên hạ, thì cũng như chính mình nuôi thiên hạ. Trách nhiệm lớn như vậy nên mình phải thường lo lắng, sợ hãi, rất thận trọng thì mới được tốt lành, mà thiên hạ được phúc lớn (lời Tiểu tượng truyện).
Hào này dương cương có tài, không như hào 5, cho nên làm được việc lớn gian hiểm.

2. Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Sơn Lôi Di trong chiêm bốc, đoán quẻ

Triệu và điềm của quẻ Di

Quẻ Di có triệu Vị Thủy Phỏng Hiền – Bĩ cực thái lai. Có bài thơ như sau:

Văn Vương cầu hiền, bờ sông Vị,

Cầu danh cầu lợi, rất dễ dàng.

Giao dịch xuất hành, đều như ý,

Bệnh tật cãi nhau, cũng tiêu tan.

Dụng thần quẻ Di

Quẻ Di là quẻ thứ 7 của tượng Tốn nên là quẻ Du Hồn. Trong quẻ thiếu hai Thân là: Quan Quỷ Tân Dậu Kim và Tử Tôn Tân Tỵ Hỏa. Đây là hai Phục Thần của Di. Tương ứng với chúng là hai Phi Thần: Thê Tài Canh Thìn Thổ và Phụ Mẫu Bính Tý Thủy.

Xét trường hợp thứ nhất, hào tam: Phi Sinh Phục (Thổ sinh Kim). Phục Thần xuất hiện được.

Xét trường hợp ngũ hào: Phi khắc Phục (Thủy khắc Hỏa), Phục Thần không xuất hiện được Phục Thần (Tý) muốn xuất hiện được phải chờ đến ngày, tháng có Hỏa trường sinh