Ý nghĩa quẻ 30 – Ly Vi Hỏa trong Kinh dịch

Luận Giải Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Số 30 – Quẻ Ly Vi Hỏa

Quẻ Phục Hy Số 30 Ly Vi Hỏa
Quẻ Phục Hy Số 30 Ly Vi Hỏa

Phần 1. Luận đoán quẻ Hỏa trong cuộc sống

Ước muốn: Thành công sẽ đến nếu tiến bước với lòng thành thật. Có thể gặp được sự giúp đỡ của người khác.

Hôn nhân: Hôn nhân xứng đôi vừa lứa. Hãy tin tưởng ở người có địa vị để làm mai mối cho hai bên. Hãy tiếp tục giao tiếp và sẽ thành công.

Tình yêu: Hai bên đều có lòng đam mê, nhưng hành động khinh suất và liều lĩnh sẽ dẫn đến thất bại.

Gia đạo: Thịnh vượng và hạnh phúc. Nhưng thái độ kiêu căng và tự phụ sẽ làm tiêu tan vận may.

Con cái: Đông con và hạnh phúc. Thai nghén: con gái.

Vay vốn: Thành công thông qua sự giúp đỡ của bên thứ ba.

Kinh doanh: Có thể gặt hái được lợi nhuận.

Chứng khoán: Đang tăng và chẳng bao lâu sẽ tăng.

Tuổi thọ: Khỏe mạnh và trường thọ.

Bệnh tật: Nghiêm trọng. Bình phục thông qua sự dưỡng bệnh cẩn thận. Các chứng sốt, các bệnh về mắt hay bệnh ở vùng bụng.

Chờ người: Sẽ đến.

Tìm người: Đang bị dụ dỗ hay bị xúi giục để bỏ nhà. Hãy tìm ở hướng Nam.

Vật bị mất: Đang bị cột hay dính vào cái gì đó. Nếu cố công sẽ gặp. Hãy tìm ở hướng Nam.

Du lịch: Thuận buồm xuôi gió.

Kiện tụng và tranh chấp: Nếu có lý lẽ chính đáng hoặc nếu bên kia sử dụng những cách thức bất chính, bạn sẽ chiến thắng. Ngược lại, bạn sẽ thất bại.

Việc làm: Hãy đặt lòng tin vào thế hệ lớn tuổi hơn và hãy chờ đến lúc chín muồi và bạn sẽ tìm được công việc.

Thi cử: Điểm cao.

Kinh doanh mới, thay đổi nghề nghiệp, chuyên môn hay chỗ làm: Với những chuẩn bị đầy đủ, bạn có thể xúc tiến. Sự bất cần chắc chắn sẽ dẫn đến thất bại.

Thời tiết: Quang đãng, nhưng rất nóng.

Phần 2. Luận giải theo ngôn ngữ hiện đại

1. Tên quẻ: Thuần Ly

2. Ý nghĩa tổng quan:

Quẻ Thuần Ly, còn gọi là Ly vi Hỏa, tượng trưng cho sự bám víu, sự sáng suốt, văn minh và sự tỏa sáng. Hai tầng lửa (Ly) chồng lên nhau tạo nên hình ảnh ánh sáng rực rỡ, sự ấm áp và sức sống. Tuy nhiên, lửa cần có vật để bám vào (như củi) mới cháy được, nên Ly cũng mang nghĩa “phụ thuộc”, “lệ thuộc” một cách tích cực (như con người phụ thuộc vào các mối quan hệ, vào đạo lý). Quẻ này tượng trưng cho sự mở mang trí tuệ, văn hóa, sự nghiệp rực rỡ và các mối quan hệ hài hòa.

3. Hình ảnh và biểu tượng:

Hình ảnh: “Minh lưỡng tác” – Sự sáng suốt xuất hiện hai lần, hay “Lợi trinh, hanh, súc mẫu ngưu, cát” – Giữ chính bền thì hanh thông, nuôi con bò cái (dịu dàng, hiền lành), tốt.

Biểu tượng: “Sự trí dĩ minh” – Dùng trí tuệ để làm sáng tỏ mọi việc. Ly là ánh sáng của trí tuệ, sự rõ ràng, minh bạch, xua tan bóng tối của sự ngu muội và nghi ngờ.

4. Luận giải từng hào:

Hào Sơ Cửu: Lý giả lị, tín vô cửu – Dẫm lên, cẩn thận, dè dặt, như vậy thì không lỗi. Hào này khuyên khi bắt đầu một việc gì dưới ánh sáng của trí tuệ (Ly), cần phải thận trọng từng bước, quan sát kỹ lưỡng. Sự cẩn trọng ban đầu là nền tảng của thành công.

Hào Lục Nhị: Hoàng ly, nguyên cát – Màu vàng của Ly (ánh sáng trung đạo, ôn hòa), rất tốt lành. Màu vàng tượng trưng cho trung dung, trung thành và đức hạnh. Hào này ca ngợi việc giữ được sự sáng suốt, ôn hòa, trung chính, đó là cát tường nhất.

Hào Cửu Tam: Nhật cổ chi ly, bất cổ phẫu nhi ca, tắc đại điệt chi kiết, hung – Ánh sáng mặt trời lúc xế chiều (nhật cổ), nếu không gõ phẫu (nhạc cụ) mà hát (tự mãn, buông thả), thì sẽ có tiếng thở dài (đại điệt), xấu. Hào này cảnh báo: dù ở thời kỳ rực rỡ (như mặt trời), nếu không biết giữ gìn, lo xa (gõ phẫu – chuẩn bị) mà chỉ biết hưởng thụ (ca hát), thì sẽ dẫn đến suy tàn, hối tiếc.

Hào Cửu Tứ: Đột như kỳ lai như, phần như, tử như, khí như – (Mọi việc) xảy đến đột ngột, bùng cháy lên, rồi chết đi, bị bỏ đi. Hào này mô tả một sự biến động dữ dội, bất ngờ như ngọn lửa bùng lên rồi tắt ngấm. Nó nhắc nhở rằng ánh sáng (thành công, danh vọng) có thể đến và đi rất nhanh. Cần chuẩn bị tinh thần cho mọi biến cố.

Hào Lục Ngũ: Xuất thế đà ta, uyển uyển, cát – Tuôn ra nước mắt than vãn (vì lo lắng, thương xót), buồn bã, ủ rũ, nhưng tốt. Hào này nói về một người ở vị trí lãnh đạo, dù có quyền lực và ánh sáng (Ly), nhưng vẫn biết lo lắng, xót thương cho dân chúng (hoặc cho sự nghiệp). Sự lo lắng chân thành ấy (nước mắt) chính là điều tốt, vì nó giúp giữ vững đạo lý và lòng người.

Hào Thượng Cửu: Vương dụng xuất chinh, hữu gia, trắc thủ, hoạch phi kỳ sầu, vô cửu – Nhà vua dùng (sức mạnh/ánh sáng này) để ra quân chinh phạt, có công trạng, chém đầu kẻ thù chủ chốt, bắt giữ những kẻ không phải đồng bọn, không lỗi. Hào này nói về việc sử dụng sức mạnh và sự sáng suốt (Ly) để trừ gian diệt ác, thiết lập lại trật tự. Hành động quyết liệt nhưng chính nghĩa, có phân biệt rõ ràng, nên không có lỗi.

5. Ứng dụng quẻ trong cuộc sống:

Công danh, sự nghiệp: Thời kỳ rực rỡ, dễ tỏa sáng, được công nhận. Thích hợp cho các ngành liên quan đến trí tuệ, văn hóa, giáo dục, truyền thông. Cần giữ thái độ khiêm tốn, minh bạch để duy trì thành công.

Tài lộc: Tài chính tốt, có thể có nguồn thu từ các lĩnh vực sáng tạo, tri thức. Tuy nhiên, cần sáng suốt trong đầu tư, tránh những dự án “hào nhoáng” nhưng thiếu thực chất.

Tình duyên, gia đạo: Tình cảm ấm áp, rạng rỡ. Gia đình hòa thuận, con cái thông minh. Mối quan hệ cần sự gắn bó, nương tựa lẫn nhau như lửa với củi.

Sức khỏe: Tinh thần minh mẫn, sáng suốt. Chú ý các bệnh liên quan đến nhiệt (tim, mắt). Giữ tâm trạng ôn hòa, tránh nóng giận.

6. Lời khuyên:

Quẻ Ly dạy ta sống trong ánh sáng của trí tuệ và sự chân thành. Hãy để trí tuệ dẫn đường cho mọi hành động, xua tan bóng tối của sự nghi ngờ và dốt nát. Hãy như ngọn lửa, tỏa sáng và sưởi ấm cho mọi người, nhưng cũng cần biết “bám víu” vào những giá trị tốt đẹp, đạo lý chính đáng để duy trì ngọn lửa ấy. Đừng vì thành công rực rỡ mà tự mãn, hãy luôn “gõ phẫu” cảnh giác và lo xa. Hãy dùng ánh sáng của mình để nhìn rõ sự thật, phân biệt chính tà, và can đảm hành động vì lẽ phải. Nhớ rằng, “minh đức” – làm sáng tỏ cái đức sáng của mình – là mục đích cao cả nhất.

Phần 3. Luận giải theo ngôn ngữ của các bậc tiên nho

1. Quẻ Ly Vi Hỏa trong Kinh Dịch

Tổng quan Quẻ Phục Hy Ly Vi Hỏa

Quẻ Hỏa Vi Ly (hoặc Thuần Ly), hay được gọi là Quẻ Ly, là quẻ số 30 trong 64 Quẻ Kinh Dịch thuộc loại quẻ Cát.

Ngoại quái: ☲ Ly (離) – Hỏa (火) tức Hỏa – Ngũ hành Hỏa.

Nội quái: ☲ Ly (離) – Hỏa (火) tức Hỏa – Ngũ hành Hỏa.

Thuộc nhóm tượng quái Ly, Ngũ hành Hỏa.

Thoán từ

Lời kinh: 離利貞, 亨, 畜牝牛, 吉.

Dịch âm: Ly lợi trinh, hanh, xúc tẫn ngưu, cát.

Dịch nghĩa: Quẻ Ly vệ sự chính, hanh, nuôi trâu cái, tốt.

Giải nghĩa: Ly là bám, muôrĩ vặt chẳng vật nào không có chỗ bám. Có hình thì có bám, ở người ta, thì là: những kẻ thân phụ những đường noi theo, những việc chủ trương, đều là bám cả. Cái mà người ta vẫn bám, lợi về trinh chính, được chính thì có thể hanh thông, cho nên nói rằng quẻ Ly lợi về sự chính, hanh. Nuôi trâu cái tốt, nghĩa là: tính trâu đã thuận, mà lại cái nữa, tức là thuận đến tột bậc. Đã dính bám vào sự chính cần phải thuận theo chính đạo, như con trâu cái, thì tốt. Nuôi trâu cái tức là nuôi cái đức thuận. Đức thuận của người ta do ở sự nuôi mà nên, đã bám vào sự chính thì nên nuôi tập cho thành đức thuận của mình.

Tượng quẻ

Lời kinh: 象⽈:明兩作, 灕.⼤⼈以繼明照乎四⽅. 

Dịch âm: Tượng viết: Minh lưỡng tác; Ly, đại nhân dĩ kê minh chiếu hồ tứ phương. 

Dịch nghĩa: Lời Tượng nói rằng; Sự sáng hai lần dấy, là quẻ Ly, bậc người lớn coi đó mà kế tiếp sáng soi ở bốn phương. 

Giải nghĩa: Nếu nói hai sự sáng, thì là hai lớp ánh sáng, không thấy cái nghĩa kế tiếp sáng tỏ. Cho nên nói rằng sự sáng hai lần. Sáng mà trùng điệp, tức là nối nhau. Dấy, là sáng tỏ có đôi mà thành quẻ Ly nối nhau mà sáng. Quẻ Chấn quẻ Tốn cũng lấy cái nghĩa hai lần theo nhau, nhưng nghĩa quẻ Ly càng trọng yếu hơn. Người lớn, nói về đức thì là thánh nhân, nói về ngôi thì là đấng vương giả. Bậc người lớn xem tượng quẻ Ly sáng sủa kế tiếp, để đời đời nối nhau dùng đức soi dọi bốn phương. Hết thảy sự sáng nối nhau đều là nối sáng. Đây chỉ cử cái lớn hơn, cho nên lấy sự nối đời kế tiếp soi rọi mà nói. 

Các hào

1. Sơ Cửu (Hào 1 dương):

Lời kinh: 初 九: 履錯然, 敬之, 无咎.

Dịch âm: Lý thác nhiên, kính chi, vô cửu.

Dịch nghĩa: Dẫm bậy bạ; phải thận trọng thì không có lỗi.

Giải nghĩa: Hào dương này có nghĩa nóng nảy, cầu tiến qua, mà còn non nớt, chưa có kinh nghiệm, như đứa trẻ vội vàng dẫm bậy bạ (Phan Bội Châu hiểu là sỏ giày nhố nhăng), tất có lầm lỗi, nên khuyên phải thận trọng (kính chi).

2. Lục Nhị (Hào 2 âm):

Lời kinh: 六 二: 黃離, 元吉.

Dịch âm: Hoàng ly, nguyên cát.

Dịch nghĩa: Sắc vàng phụ vào ở giữa, rất tốt.

Giải nghĩa: Hào này ở quẻ Ly có đức văn minh, lại đắc trung, đắc chính, trên ứng với hào 5 cũng văn minh, đắc trung, nên rất tốt. Vì ở giữa, văn minh, nên ví với sắc vàng, đẹp, sắc của trưng ương như đã giảng ở hào 5 quẻ Khôn và hào 5 quẻ Phệ hạp.

3. Cửu Tam (Hào 3 dương):

Lời kinh: 九 三: 日昃之離, 不鼓 缶而歌, 則大耋之嗟, 凶.

Dịch âm: Nhật trắc chi Ly, bất cổ phẩu nhi ca, tắc đại diệt chi ta, hung.

Dịch nghĩa: Mặt trời xế chiều lặn, (ý nói người già, tính tình thất thường, không đáng vui mà vui. Không đáng buồn mà buồn). Khi thì gõ cái phẫu (vò bằng đất, đựng rượu mà cũng dùng làm nhạc khí) mà hát, lúc lại than thân già nua; xấu , (Hồi xưa khi hát thì gõ nhịp bằng cái phẫu).

Giải nghĩa: Hào 3 này ở trên cùng nội quái ly, như mặt trời sắp lặn mà chưa lên ngoại quái Ly, chưa tới lúc mặt trời mọc (sáng hôm sau).
Câu: “bất cổ phẫu nhi ca, tắc dại diệt chi ta”, Chu Hi hiểu là “chẳng yên phận mà vui vẻ, mà lại than thở vì già nua, thế là không biết tự xử.”

4. Cửu Tứ (Hào 4 dương):

Lời kinh: 九 四: 突如, 其來如, 焚如, 死如, 棄如.

Dịch âm: Đột như, kì lai như, phần như, tử như, khí như.

Dịch nghĩa: Thình lình chạy tới, như muốn đốt người ta vậy, thì sẽ chết, bị mọi người bỏ.

Giải nghĩa: Hão này dương cương, nóng nảy, bất chính, bất trung, mới ở nội quái lên, gặp hào 5 âm nhu, muốn lấn át 5, như một người ở đâu thình lình tới, lồn lộn lên muốn đốt người ta (hào 5) , táo bạo, vụng về như vậy làm sao khỏi chết, có ai dung được nó đâu.

5. Lục Ngũ (Hào 5 âm):

Lời kinh: 六 五: 出涕沱若, 戚嗟若, 吉.

Dịch âm: Xuất thế đà nhược, thích ta nhược, cát.

Dịch nghĩa: Nước mắt ròng ròng, nhưng biết buồn lo than thở, nên tốt.

Giải nghĩa: Hào này âm nhu, ở ngôi tôn, trung những không chính, bị ép giữa hào hào dương, mắc vào hoàn cảnh khó khăn, cho nên bảo là “nước mắt ròng ròng”; nhưng nhờ đức văn minh của quẻ Ly, nên là người biết lo tính, than thở, tìm cách đối pó với hoàn cảnh được, cho nên rồi sẽ tốt.

6. Thượng Cửu (Hào 6 dương):

Lời kinh: 上 九: 王用出征, 有嘉; 折首, 獲匪其醜, 无咎.

Dịch âm: Vương dụng xuất chinh, Hữu gia; chiết thủ, hoạch phỉ kì xú, vô Cửu.

Dịch nghĩa: Vua dùng (người có tài, tức hào này) để ra quân chinh phạt, có công tốt đẹp, giết đầu đảng mà bắt sống kẻ xấu đi thì thôi, như vậy thì không có lỗi.

Giải nghĩa: Hào này dương cương lại ở trên cùng quẻ Ly, thế là vừa cương quyết vừa sáng suốt đến cực điểm, vua dùng tài ấy để trừ kẻ gian tà thì thành công lớn.
Nhưng vì cương quá thì dễ hóa tàn bạo, nên Hào từ khuyên dẹp loạn thì chỉ nên giết những kẻ đầu sỏ, còn những kẻ đi theo thì bắt sống thôi. Như vậy sẽ không có lỗi.

2. Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Ly Vi Hỏa trong chiêm bốc, đoán quẻ

Triệu và điềm của quẻ Hỏa

Quẻ Ly có triệu Thiên Quan Tứ Phước – Phát phúc sinh tài. Có bài thơ như sau:

Gieo được quẻ này, gặp Thiên Quan,

Phúc lộc tự nhiên, đến rất nhiều.

Mọi việc kinh doanh, đều có lợi,

Buồn lo thì mất, chủ bình an.

Dụng thần quẻ Hỏa

Quẻ Ly có đủ lục thân nên không có Phi Thần, Phục Thần.