Ý nghĩa quẻ 31 – Trạch Sơn Hàm trong Kinh dịch

Luận Giải Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Số 31 – Quẻ Trạch Sơn Hàm

Quẻ Phục Hy Số 31 Trạch Sơn Hàm
Quẻ Phục Hy Số 31 Trạch Sơn Hàm

Phần 1. Luận đoán quẻ Hàm trong cuộc sống

Ước muốn: Có thể trở thành hiện thực.

Hôn nhân: Diễn ra êm đẹp, hôn nhân xứng đôi.

Tình yêu: Đã đạt đến mức yêu mến đáng kể. Thành công là điều rõ rệt.

Gia đạo: Gia đình hòa hợp và thịnh vượng.

Con cái: Cảm nghĩ thuận hòa giữa cha mẹ và con cái. Tuy nhiên việc nuông chiều con cái sẽ dẫn đến cảnh ngộ bất hạnh.

Thai nghén: con gái.

Vay vốn: Thành công.

Kinh doanh: Lợi nhuận sẽ biền thành hiện thực đúng như mong đợi.

Chứng khoán: Tình hình ổn định.

Tuổi thọ: Khỏe mạnh và sống thọ.

Bệnh tật: Sẽ bình phục. Các bệnh truyền qua đường sinh dục và các bệnh liên quan đến vùng ngực.

Chờ người: Sẽ đến, đồng thời còn mang lại niềm vui và tiếng cười.

Tìm người: Người này đang có liên quan đến một loại phiền toái trai gái nào đó. Có thể sớm gặp được.

Vật bị mất: Bị lẫn lộn trong vật nào khác, hoặc đã bị đặt sai chỗ vào trong vật gì đó. Hãy tìm ở hướng Đông Bắc hoặc hướng Tây.

Du lịch: Sẽ gặp ai đó trên đường đi. Phải cưỡng lại tình yêu bất chính.

Kiện tụng và tranh chấp: Tốt nhất là hãy hòa giải.

Việc làm: Suôn sẻ.

Thi cử: Điểm rất cao.

Kinh doanh mới, thay đổi nghề nghiệp, chuyên môn hay chỗ làm: Có thể tiến hành.

Thời tiết: Trời mưa.

Phần 2. Luận giải theo ngôn ngữ hiện đại

1.  Tên quẻ: Trạch Sơn Hàm 

2. Ý nghĩa tổng quan:

Quẻ Trạch Sơn Hàm tượng trưng cho sự cảm ứng, thu hút và hòa hợp trong các mối quan hệ, đặc biệt là tình cảm giữa nam và nữ. Trên là Đầm (Trạch) – dịu dàng, dưới là Núi (Sơn) – vững chãi, tạo nên sự kết hợp âm dương hài hòa. “Hàm” có nghĩa là “cảm”, là sự rung động, xúc cảm từ trái tim. Quẻ này nói về sức mạnh của sự thu hút tự nhiên, sự tương tác chân thành và khởi đầu của mọi mối giao hảo. Nó nhấn mạnh rằng mọi sự kết nối bền vững đều bắt nguồn từ sự rung cảm chân thật từ bên trong.

3. Hình ảnh và biểu tượng:

Hình ảnh: “Sơn thượng hữu trạch” – Trên núi có đầm nước. Núi cao hút lấy hơi nước từ đầm tạo thành mây mưa, đầm nước lại làm tươi mát chân núi. Đó là sự trao đổi, cảm ứng lẫn nhau.

Biểu tượng: “Hàm, cảm dã” – Hàm là cảm ứng. Và “Nhu nhi thượng, cương nhi hạ, nhị khí cảm ứng dĩ tương dữ” – Âm nhu ở trên, dương cương ở dưới, hai khí cảm ứng với nhau mà hòa hợp. Đây là biểu tượng của một mối quan hệ lý tưởng.

4. Luận giải từng hào:

Hào Sơ Lục: Hàm kỳ mẫu – Cảm ứng ở ngón chân cái. Hào này nói về sự rung cảm ở mức độ sơ khai, bản năng nhất, chưa sâu sắc. Như một cái chạm nhẹ, một ánh mắt đầu tiên. Chưa thể dẫn đến hành động lớn, nhưng là khởi đầu cần thiết.

Hào Lục Nhị: Hàm kỳ phì, hung, cư cát – Cảm ứng ở bắp chân, xấu; nhưng nếu đứng yên (không vội hành động) thì tốt. Sự rung cảm đã lên cao hơn (bắp chân), dễ khiến người ta vội vã hành động theo cảm xúc, dẫn đến kết quả xấu. Hào này khuyên nên giữ vị trí (cư), đừng vội tiến lên, để cảm xúc thêm chín muồi.

Hào Cửu Tam: Hàm kỳ cổ, chấp kỳ tùy, vãng lận – Cảm ứng ở bắp đùi, cứ khư khư theo đuôi người khác (hành động thiếu chủ kiến), tiến lên sẽ hổ thẹn. Hào này cảnh báo về sự cảm ứng mù quáng, chỉ biết a dua, chạy theo người khác mà không có lập trường riêng. Hành động như vậy chỉ chuốc lấy sự hối tiếc.

Hào Cửu Tứ: Trinh cát, hối vong, đảng đảng vãng lai, minh tòng nhĩ tư – Giữ chính bền thì tốt, hối hận tiêu tan. Những suy nghĩ qua lại dập dìu (đảng đảng), bạn bè sẽ theo về với ý nghĩ sáng suốt của bạn. Hào này khẳng định: khi sự cảm ứng đạt đến mức độ tâm trí (hào 4 ở vị trí gần trung tâm), nếu giữ được sự chính trực và sáng suốt, thì mọi nghi ngờ sẽ tan biến, và bạn sẽ thu hút được những mối quan hệ tốt đẹp, chân thành.

Hào Cửu Ngũ: Hàm kỳ mỗi, vô hối – Cảm ứng ở gáy (phần lưng trên), không hối hận. Đây là vị trí cao và cứng cỏi. Hào này nói về sự cảm ứng của một người ở vị trí tôn quý. Họ không dễ dàng bày tỏ hay hành động theo cảm xúc (cảm ở lưng, không thấy được), nhưng sự cảm ứng bên trong vẫn mạnh mẽ và chân thật, nên không có gì phải hối tiếc.

Hào Thượng Lục: Hàm kỳ phụ, giáp, thiệt – Cảm ứng ở má, hàm và lưỡi (phụ, giáp, thiệt). Hào này miêu tả sự biểu hiện ra bên ngoài của cảm ứng thông qua lời nói (lưỡi) và nét mặt (má, hàm). Đây là giai đoạn cảm xúc đã chín muồi và được bộc lộ một cách tự nhiên, rõ ràng, dẫn đến sự giao tiếp, đối thoại cởi mở.

5. Ứng dụng quẻ trong cuộc sống:

Công danh, sự nghiệp: Rất tốt cho việc xây dựng mạng lưới quan hệ, hợp tác, đàm phán. Sự chân thành và khả năng thấu hiểu, cảm thông sẽ thu hút đối tác và cơ hội. Tránh những liên minh thiếu chân tình.

Tài lộc: Tài lộc có thể đến từ các mối quan hệ hoặc hợp tác làm ăn. Cần dựa trên sự tin cậy lẫn nhau. Đầu tư vào các dự án mà bạn thực sự có cảm tình và hiểu biết.

Tình duyên, gia đạo: Đây là quẻ chủ về tình yêu và hôn nhân. Báo hiệu một mối quan hệ mới đầy cảm xúc hoặc sự hòa hợp trong gia đình. Giao tiếp cởi mở, chân thành là chìa khóa. Tình cảm nên xuất phát từ trái tim.

Sức khỏe: Chú ý đến sự cân bằng cảm xúc. Các vấn đề có thể phát sinh từ sự ức chế tình cảm hoặc xúc động quá mức. Sức khỏe tốt nhờ tinh thần vui vẻ, hạnh phúc.

6. Lời khuyên:

Quẻ Hàm dạy ta sức mạnh của sự chân thành và cảm xúc thật. Trong mọi mối quan hệ, từ tình yêu, bạn bè đến công việc, hãy để trái tim dẫn lối một cách trong sáng. Sự thu hút thực sự đến từ bên trong, không phải từ sự tính toán hay vờ vĩnh. Hãy như ngọn núi vững vàng để đón nhận làn nước mát dịu, và như đầm nước tĩnh lặng để phản chiếu vẻ hùng vĩ của núi. Hãy mở lòng để cảm nhận và được cảm nhận. Tuy nhiên, cũng cần giữ cho cảm xúc thăng bằng, đừng để nó dẫn dắt bạn một cách mù quáng. Hãy để sự rung cảm ban đầu (ngón chân) dần dần thấm sâu vào tâm trí (hào 4) trước khi biểu lộ ra ngoài (má, lưỡi). Khi mọi thứ xuất phát từ sự đồng điệu chân thật của hai tâm hồn, kết quả sẽ là sự hòa hợp viên mãn.

Phần 3. Luận giải theo ngôn ngữ của các bậc tiên nho

1. Quẻ Trạch Sơn Hàm trong Kinh Dịch

Tổng quan Quẻ Phục Hy Trạch Sơn Hàm

Quẻ Trạch Sơn Hàm hay được gọi là Quẻ Hàm, là quẻ số 31 trong 64 Quẻ Kinh Dịch thuộc loại quẻ Cát.

Ngoại quái: ☱ Đoài (兌) – Trạch (澤) tức Đầm – Ngũ hành Kim.

Nội quái: ☶ Cấn (艮) – Sơn (山) tức Núi – Ngũ hành Thổ.

Thuộc nhóm tượng quái Đoài, Ngũ hành Kim.

Thoán từ

Lời kinh: 咸亨, 利貞, 取女, 吉。

Dịch âm: Hàm hanh, lợi trinh, thù nữ, cát

Dịch nghĩa: Giao cảm thì hanh thông, giữ đạo chính thì lợi, lấy con gái thì tốt.

Giải nghĩa: Hàm tức là cảm, nhưng không nói cảm, vì Hàm còn có nghĩa nữa là đều, tức là trai gái cảm lẫn nhau vậy. Các vật cảm nhau, không gì thiết tha bằng trai với gái mà hạng tuổi trẻ càng thiết tha hơn. Các vật cảm nhau thì có lẽ hanh thông, cho nên quẻ Hàm mới có lẽ hanh, Lợi trinh nghĩa là cái đạo cảm nhau, lợi về sự chính. Lấy con gái tốt, là nói tài quẻ. Quẻ có mềm trên cứng dưới, hai khí cảm ứng với nhau, đậu mà đẹp lòng nghĩa trai chịu dưới gái, dùng cách đó mà lấy con gái, thì được chính đáng mà tốt lành.

Tượng quẻ

Lời kinh: 象⽈:⼭上有澤, 咸.君⼦以虛受⼈. 

Dịch âm: Tượng viết: Sợn thượng hữu trạch, Hàm, quân tử dĩ hư thụ nhân. 

Dịch nghĩa: Lời Tượng nói rằng: Trên núi có chầm, là quẻ Hàm, đấng quân tử coi đó mà trống rỗng lòng mình để nhận người ta.

Giải nghĩa: Tính chầm nhuần xuống, tính đất chịu sự nhuần chầm ở trên núi, mà sự thấm nhuần của nó thông suốt, ấy là khí của hai vật cảm thông với nhau. Đấng quân tử xem tượng núi chầm thông khí đó mà giữ cho lòng mình trống rỗng để nhận người ta. Ôi, người ta hễ trong bụng trống rỗng thì có thể nhận, đầy đặc thì không thể nhận. Trống rỗng trong lòng tức là không có ý riêng vậy. Trong lòng đã không chuyên chủ, thì không sự cảm nào mà không thông. Nếu chỉ lấy lượng mà chứa, chọn sự hợp lý với mình mà nhận, thì không phải là đạo “có cảm ắt thông” của đấng thánh nhân. 

Các hào

1. Sơ Lục (Hào 1 âm):

Lời kinh: 初 六: 咸其拇.

Dịch âm: Hàm kì mẫu.

Dịch nghĩa: Như cảm ngón chân cái.

Giảng nghĩa: Hào từ lấy thân người làm thí dụ. Hào 1 ở dưới cùng. Nó ứng với hào 4, thấp mà cảm với trên cao, sức cảm còn nhỏ, chưa động được lòng người, mới hơi động được ngón chân thôi. Không khen cũng không chê.

2. Lục Nhị (Hào 2 âm):

Lời kinh: 六 二: 咸其腓, 凶; 居吉.

Dịch âm: Hàm kì phì, hung; cư cát.

Dịch nghĩa: Cảm được bắp chân, xấu; ở yên thì tốt.

Giảng nghĩa: Hào 2, cao hơn một chút, ví như bắp chân. Nó ứng với hào 5, nhưng nó là âm, phận gái, mà còn ở dưới thấp, nếu nóng lòng cầu thân với 5 thì xấu. Nó nên giữ nết trung chính (vì là hào 2 đắc trung, đắc chính) của nó thì mới tốt, như vậy mới hợp đạo lý.
Thoán truyện bảo: quẻ Hàm này, hễ tĩnh thì tốt; cho nên hào 2 này khuyên không nên động.

3. Cửu Tam (Hào 3 dương):

Lời kinh: 九 三: 咸其股, 執其隨, 往吝.

Dịch âm: Hàm kì cổ, chấp kì tùy, vãng lận.

Dịch nghĩa: Cảm được tới đùi, chỉ muốn theo người, cứ như vậy mà tíến thì xấu.

Giảng nghĩa: Hào này ở trên cùng nội quái, nên ví với bắp đùi. Nó là dương cương, ham tiến, muốn theo hào 4 cũng dương cương ở trên nó; trong thời Hàm, nên tĩnh mà nó động, lại động theo người nữa, đáng chê.

4. Cửu Tứ (Hào 4 dương):

Lời kinh: 九 四: 貞吉悔亡; 憧憧往來, 朋從爾思.

Dịch âm: Trinh cát hối vong; đồng đồng vãng lai, bằng tòng nhĩ tư.

Dịch nghĩa: Hễ chính đáng thì tốt, mà mất hết những điều đáng ăn năn. Nhược bằng nếu lăng xăng tính toán có qua có lại với nhau thì những người qua lại với anh chỉ là những người anh nghĩ tới mà thôi (ý nói: số bạn không đông, đoàn thể không lớn).

Giảng nghĩa: Hào này đã lên ngoại quái, dương cương, lại ở quẻ đoài (vui vẻ), tức là có tình hoà duyệt, nặng về cảm tính, cho nên ví với trái tim (tấm lòng). Tình cảm phải chính đáng, chí công vô tư, như vậy mới tốt, không phải ăn năn. Nếu có óc tính toán, tốt với người để mong người tốt lại với mình, có đi có lại thì số bạn không được đông.
Theo Hệ từ truyện, Chương V, Khổng tử giảng hào này rất kỷ, chúng tôi trích ra đoạn dưới đây:
“Đạo lý trong thiên hạ, cần gì phải ngẫm nghĩ bằng ý riêng, tính toán bằng mẹo vặt, vì thiên hạ đường đi tuy khác nhau mà qui kết thì ý như nhau: tính toán trăm lối mà cuối cùng chỉ tóm vào một lẽ (lẽ đó là có cảm thì có ứng, ứng lại gây ra cảm) cần gì phải ngẫm nghĩ bằng ý riêng, tính toán bằng mẹo vặt ..”

5. Cửu Ngũ (Hào 5 dương):

Lời kinh: 九 五: 咸其脢, 无悔.

Dịch âm: Cảm kì mỗi, vô hối.

Dịch nghĩa: Cảm tới bắp thịt ở trên lưng, không hối hận.

Giảng nghĩa: Bắp thịt ở trên lưng, cao hơn tim (hay lòng) mà trái với tim, không cảm được vật. Không cảm được vật mà cũng không có tư tâm, tư ý, nên cũng không có gì hối hận. Có lẽ vì hào 5 này dương cương, ở vị rất cao, trung, chính, cách biệt dân chúng quá, cho nên Chu Hi bảo là “không cảm được vật” chẳng?

6. Thượng Lục (Hào 6 âm):

Lời kinh: 上 六: 咸其輔, 頰, 舌.

Dịch âm: Hàm kì phụ, giáp, thiệt.

Dịch nghĩa: Cảm người bằng mép, má, lưỡi.

Giảng nghĩa: Hào này ở trên cùng Hàm, nên ví với mép, má, lưỡi. Nó là âm nhu ở trong ngoại quái Đoài (vui vẻ), ham cảm người ta bằng miệng lưỡi, không thành thực. Chẳng cần nói cũng biết là đáng chê rồi.

2. Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Trạch Sơn Hàm trong chiêm bốc, đoán quẻ

Triệu và điềm của quẻ Hàm

Quẻ Hàm có triệu Manh Nha Xuất Thổ – Thời vận đã đến. Có bài thơ như sau:

Thời vận đến rồi, mọi sự may,

Kinh doanh buôn bán, thật phát tài.

Phúc lộc tiền tài, từ từ đến,

Bệnh tật tiêu tan, hết buồn phiền.

Dụng thần quẻ Hàm

Quẻ Hàm thiếu một thân là Thê Tài Đinh Mão Mộc, đây là Phục Thần, vậy Phi Thần là Quan Quỷ Bính Ngọ Hỏa. Mộc sinh Hỏa, do vậy Phục Thần sinh Phi Thần, điều các nhà Dịch Học xưa gọi là “Phục khu sinh Phi vi tiết khí”. Nghĩa là Phục “giúp” một cách quá sức cho Phi nên bị tiết sinh khí, bị yểu.