Luận Giải Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Số 36 – Quẻ Địa Hỏa Minh Di

Phần 1: Luận đoán quẻ Minh Di trong cuộc sống
Ước muốn: Không thành công.
Hôn nhân: Cuộc hôn nhân không tốt đẹp. Cho dù đã thành thân, hôn nhân này cũng sẽ tan vỡ. Tuy nhiên, có thể tiến tới bằng một hôn nhân kín đáo hay sự trốn theo.
Tình yêu: Không thành công vì có nhiều trở ngại lớn.
Gia đạo: Gia cảnh suy vi. Thường có bất hòa.
Con cái: Những liên lụy của con cái sẽ khiến bạn khốn khổ. Sự quan tâm và nỗ lực dạy bảo chúng sẽ có nghĩa là thành công trong tương lai và thịnh đạt. Thai nghén: con gái. Có khả năng sinh khó.
Vay vốn: Không thành công.
Kinh doanh: Diễn ra trắc trở, thậm chí lỗ lã. Tốt nhất hãy tạm thời dừng lại.
Chứng khoán: Giá cả giảm.
Tuổi thọ: Yếu đuối, bệnh hoạn, có khả năng bị đoản thọ. Bạn phải biết quan tâm đến việc kiềm chế bản thân.
Bệnh tật: Nghiêm trọng nhưng không đến nỗi tử vong. Những bệnh tiềm ẩn hay chưa lộ có khả năng xảy ra. Các bệnh liên quan đến vùng bụng.
Chờ người: Sẽ không đến.
Tìm người: Đang ẩn nấp gần đâu đó. Hãy tìm ở hướng Nam hoặc Tây Nam.
Vật bị mất: Bị đặt sai chỗ bên dưới cái gì đó. Hãy tìm ở hướng Nam hoặc Tây Nam.
Du lịch: Có thể có tai họa giữa đường. Tốt nhất hãy hủy chuyển đi này.
Kiện tụng và tranh chấp: Thất bại. Tù đày hay bị phạt giam là có thể.
Việc làm: Không hy vọng gì trong hiện tại.
Thi cử: Điểm kém.
Kinh doanh mới, thay đổi nghề nghiệp, chuyên môn hay chỗ làm: Bất lợi. Hãy chờ đến lúc vận hội thay đổi.
Thời tiết: Xấu liên tục.
Phần 2. Luận giải theo ngôn ngữ hiện đại
1. Tên quẻ: Địa Hỏa Minh Di
2. Ý nghĩa tổng quan
Quẻ Địa Hỏa Minh Di tượng trưng cho sự tổn thương, che giấu ánh sáng và trí tuệ trong hoàn cảnh nguy hiểm. Trên là Đất (Địa) – che lấp, dưới là Lửa (Hỏa) – ánh sáng, trí tuệ. Hình ảnh lửa bị đất vùi lấp, ánh sáng không thể tỏa ra. Quẻ này biểu thị thời kỳ người quân tử, người có tài đức gặp phải hoàn cảnh tối tăm, tiểu nhân đắc thế, cần phải biết che giấu tài trí, thu mình lại để tránh họa, chờ thời cơ. “Di” có nghĩa là bị thương, bị hại.
3. Hình ảnh và biểu tượng
Hình ảnh: “Minh nhập địa trung” – Ánh sáng đi vào trong đất. Mặt trời lặn, bóng tối bao trùm.
Biểu tượng: “Minh di, lợi gian trinh” – Minh Di, có lợi trong việc giữ vững sự chính bền một cách khó khăn. Và “Nội văn minh nhi ngoại nhu thuận, dĩ mông đại nan” – Bên trong thì sáng suốt mà bên ngoài tỏ ra nhu thuận, để vượt qua đại nạn. Biểu tượng của trí tuệ ẩn mình, nhẫn nhịn để tồn tại.
4. Luận giải từng hào
Hào Sơ Cửu: Minh di vu phi, thùy kỳ dực, quân tử vu hành, tam nhật bất thực, hữu du vãng, chủ nhân hữu ngôn – Ánh sáng bị thương khi bay, buông rủ đôi cánh. Người quân tử trong lúc hành trình, ba ngày không ăn, có nơi để đi, nhưng chủ nhân (nơi đến) lại có lời quở trách. Khởi đầu đã gặp tổn thương, hao tổn sức lực, hành động gặp trở ngại, thậm chí bị hiểu lầm, chê trách.
Hào Lục Nhị: Minh di, di vu tả cổ, dụng cứu mã trang, cát – Ánh sáng bị thương, bị thương ở đùi trái, dùng sức mạnh của con ngựa tốt để cứu chữa, thì tốt. Bị tổn thương ở chỗ then chốt (đùi – di chuyển), nhưng may mắn có được sự trợ giúp mạnh mẽ và đáng tin cậy (“mã trang” – ngựa tốt, chỉ bạn tốt, quý nhân) kịp thời cứu giúp, nên vẫn tốt.
Hào Cửu Tam: Minh di vu nam thủ, đắc kỳ đại thủ, bất khả cấp, trinh – Ánh sáng bị thương khi đi về phương nam săn bắn, được thủ lĩnh lớn của nó (ý nói tìm được minh chủ, hoặc nắm được then chốt vấn đề), không thể vội vàng, phải giữ chính bền. Trong hành trình gian nan, cuối cùng cũng tìm được phương hướng, tìm được người dẫn đường hoặc giải pháp then chốt. Cần kiên nhẫn, đừng nóng vội.
Hào Lục Tứ: Nhập vu tả phúc, hoạch minh di chi tâm, vu xuất môn đình – Đi vào bên trái bụng (thâm nhập vào nội tình, cốt lõi của sự việc), nắm được cái tâm (nguyên nhân, bản chất) của Minh Di, rồi ra khỏi cửa lớn. Bằng sự thâm nhập và quan sát sâu sắc, đã thấu hiểu được bản chất của sự nguy hiểm, tổn thương. Từ đó, có thể tìm ra lối thoát (“xuất môn đình”).
Hào Lục Ngũ: Cơ tử chi minh di, lợi trinh – Sự tổn thương ánh sáng của Kỷ Tử (một hiền thần bị vua bạo ngược hãm hại), có lợi cho việc giữ vững sự chính bền. Ở vào hoàn cảnh của bậc hiền tài bị vùi dập, oan khuất. Chỉ có cách giữ vững khí tiết và đạo nghĩa, dù bị hại cũng không khuất phục, đó mới là con đường sáng.
Hào Thượng Lục: Bất minh, hốt, sơ đăng vu thiên, hậu nhập vu địa – Không sáng, tối tăm. Lúc đầu lên đến trời, sau lại rơi xuống đất. Sự tổn thương đã đến cực điểm, từ chỗ cao sang rơi xuống vực thẳm. Ánh sáng hoàn toàn bị dập tắt. Đây là kết quả của việc không biết giữ mình, không thức thời trong cảnh Minh Di.
5. Ứng dụng quẻ trong cuộc sống
Công danh, sự nghiệp: Làm việc trong môi trường nhiều cạm bẫy, tiểu nhân lộng hành, không thể phô trương tài năng. Nên làm việc âm thầm, tránh thể hiện, chờ đợi thời cơ. Có thể bị hiểu lầm, đố kỵ.
Tài lộc: Tài chính hao hụt, đầu tư thất bại, dễ bị lừa gạt. Nên thắt chặt chi tiêu, bảo toàn vốn, không nên mạo hiểm. Của cải dễ bị tổn thất.
Tình duyên, gia đạo: Tình cảm bị tổn thương, hiểu lầm sâu sắc, có nguy cơ đổ vỡ. Cần nhẫn nhịn, dùng thời gian để hàn gắn. Gia đạo có thể có biến cố buồn.
Sức khỏe: Bệnh tật tiềm ẩn, khó chẩn đoán (bệnh “âm”). Tinh thần u uất, trầm cảm. Cần tìm nguyên nhân gốc rễ của bệnh, chữa trị từ bên trong, giữ tinh thần lạc quan.
6. Lời khuyên
Quẻ Minh Di dạy ta bài học về sự tỉnh táo và nhẫn nại trong nghịch cảnh. Khi ánh sáng bị vùi lấp, đừng cố gắng chiếu rọi một cách liều lĩnh, mà hãy biết cách bảo vệ ngọn lửa nhỏ nhoi trong lòng. Hãy như Kỷ Tử, giữ vững khí tiết dù trong ngục tù. Sự che giấu ánh sáng không phải là hèn nhát, mà là trí tuệ sinh tồn. Hãy “nội minh ngoại nhu” – bên trong sáng suốt, bên ngoài mềm mỏng. Dùng sự thâm trầm để quan sát, dùng sự nhẫn nhục để chờ đợi. Hãy nhớ rằng, đêm càng tối thì những vì sao càng sáng. Chỉ cần giữ được ngọn lửa chính nghĩa và trí tuệ trong tim, rồi một ngày, khi bóng tối qua đi, bạn sẽ tỏa sáng rực rỡ hơn xưa.
Phần 3. Luận giải theo ngôn ngữ của các bậc tiên nho
1. Quẻ Địa Hỏa Minh Di trong Kinh Dịch
Tổng quan Quẻ Phục Hy Địa Hỏa Minh Di
Quẻ Địa Hỏa Minh Di hay được gọi là Quẻ Minh Di, là quẻ số 36 trong 64 Quẻ Kinh Dịch thuộc loại quẻ Hung.
Ngoại quái: ☷ Khôn (坤) – Địa (地) tức Đất – Ngũ hành Thổ.
Nội quái: ☲ Ly (離) – Hỏa (火) tức Hỏa – Ngũ hành Hỏa.
Thuộc nhóm tượng quái Khảm (Quẻ Du Hồn), Ngũ hành Thủy.
Thoán từ
Lời kinh: 明夷利艱貞.
Dịch âm: Minh di lợi gian trinh.
Dịch nghĩa: Ánh sáng bị tổn hại, chịu gian nan, giữ điều chính thì lợi.
Giải nghĩa: Đấng quân tử gặp thời Minh di, lợi ở biết khó nhọc mà không lỗi đạo trinh chính. Ở thời tối tăm khó khăn mà có thể không mất sự trinh chính của mình, vì vậy mới là quân tử sáng láng.
Tượng quẻ
象⽈:明⼊地中,明夷,君⼦以蒞泉,⽤晦⽽明. Dịch âm. – Tượng viết: Minh nhập địa trung, Minh di, quân tử dĩ ly chúng, dụng hối nhi minh. Dịch nghĩa. – Lời Tượng nói rằng: Sáng vào trong đất là quẻ Minh di. Đấng quân tử coi đó để trị dân chúng, dùng tối mà sáng.
Giải nghĩa: Sự sáng là để mà soi, đấng quân tử không đâu không soi, nhưng quá dùng sự sáng, thì hại về đường xét nét, xét nét quá thì hết việc mà không có độ lượng bao dung cho nên đấng quân tử coi Tượng “Sáng vào trong đất”,mà về cách trị người không soi, xét cùng cực mà dùng sự tối, rồi mới có thể dong người hào chúng. Người ta thân với mình mà đâu yên đó, thế là dùng sự tối cốt để cho sáng. Nếu tự dùng sự sáng của mình, không gì không xét, thì tự mình không thắng được sự giận ghét mà không có đức khoan hậu bao dung, lòng người xa lìa ngờ vực không yên, thế là lỗi đạo trị người, chỉ để thành ra không sáng mà thôi.
Các hào
1. Sơ Cửu (Hào 1 dương):
Lời kinh: 初 九: 明夷, 于飛 垂其翼.君子于行, 三日不食, 有攸往, 主人有言.
Dịch âm: Minh di, vu phi thùy kì dực. Quân tử vu hành, tam nhật bất thực, hữu du vãng, chủ nhân hữu ngôn.
Dịch nghĩa: Ở thời u ám (ánh sáng bị tổn hại), hào này như con chim muốn bay mà cánh rũ xuống. Người quân tử biết thời cơ thì bỏ đi ngay, dù (không có tiền) phải nhịn đói ba ngày, mà đi tới đâu, gặp chủ cũ, cũng bị chủ cũ chê trách.
Giảng nghĩa: Hào dương ở đầu thời Minh di, là người quân tử gặp thời hắc ám, có thể bị hại như con chim rũ cánh xuống. Cách xử thế là nên bỏ đi ngay, như Phạm Lãi bỏ nước Việt vì biết vua Việt là Câu Tiễn sẽ nghi ngờ mà hại các công thần, nhờ vậy tránh được cái hoạ bị giết như đại phu Chủng.
2. Lục Nhị (Hào 2 âm):
Lời kinh: 六 二: 明夷, 夷于左股, 用拯馬壯, 吉.
Dịch âm: Minh di, di vu tả cổ, dụng chửng mã tráng, cát.
Dịch nghĩa: Ở thời ánh sáng bị tổn hại, hào này như bị đau ở đùi bên trái, nhưng cũng mau khỏi, sẽ như con ngựa mạnh mẽ tiến lên, tốt.
Giảng nghĩa: Hào này làm chủ nội quái Ly (sáng suốt), đắc trung, đắc chính , là bậc quân tử có tài, nhưng ở thời Minh di, hôn ám nên bị tiểu nhân làm hại ít nhiều, như bị thương ở đùi bên trái, nhưng rồi sẽ mau khỏi (dụng chửng), mà như con ngựa mạnh mẽ.
Tốt vì hào 2 trung, chính, lại vẫn thuận theo (vì là hào âm) phép tắc.
“dụng chửng mã tráng” R. Wilhelm giảng là : sẽ dùng sức con ngựa mạnh mà giúp đỡ người khác khỏi cơn nguy, J. Legge dịch là: tự cứu mình bằng sức một con ngựa mạnh. Chúng tôi theo Chu Hi và Phan Bội Châu.
3. Cửu Tam (Hào 3 dương):
Lời kinh: 九 三: 明夷, 于南狩, 得其大首, 不可疾, 貞.
Dịch âm: Minh di, vu nam thú, đắc kì đại thủ, bất khả tật, trinh.
Dịch nghĩa: Ở thời ánh sáng bị tổn hại, đi tuần về phương Nam, bắt được kẻ đầu sỏ, nhưng đừng hành động gấp, phải bền chí.
Giảng nghĩa: Hào này ở trên cùng nội quái Ly là cực sáng suốt; nó là dương cương , ở vị dương, vậy là rất cương kiện, nó ứng với hào âm ở trên cùng quẻ Khôn (ngoại quái), hào này cực hôn ám. Nó sẽ đánh đổ hào âm đó. Nó cứ đem binh đi tuần về phương Nam (Nam thú: Phan Bội Châu giảng là đem quân tiến lên phía trước để trừ loạn) sẽ bắt được tên đầu sỏ phản loạn. Nhưng nó cương cường nóng nảy, nên phải khuyên: đừng gấp, phải bền chí giữ đạo chính.
4. Lục Tứ (Hào 4 âm):
Lời kinh: 六 四: 入于左腹, 獲明夷之心, 于出門庭.
Dịch âm: Nhập vu tả phúc, hoạch minh di chi tâm, vu xuất môn đình.
Dịch nghĩa: Như vô phía bên trái của bụng (ý nói chỗ u ám); tấm lòng ở thời u ám (minh di) là nên bỏ nhà mà ra đi.
Giảng nghĩa: Hào này âm nhu, ở vào thời Minh di, mà lại vượt quẻ Ly, sang quẻ Khôn rồi, tức bỏ chỗ sáng sủa, bước vào chỗ tối tăm, cho nên ví như vô phía bên trái của bụng. Nhưng hào này đắc chính (âm ở vị âm) nên có thể rút chân ra khỏi cảnh khốn nạn ấy được: cứ bỏ nhà ra đi, tức tránh cho xa cảnh đó, mặc nó.
Đó là hiểu theo Phan Bội Châu. Chu Hi nhận rằng không thấy được nghĩa hào này.
5. Lục Ngũ (Hào 5 âm):
Lời kinh: 六 五: 箕子之明夷, 利貞.
Dịch âm: Cơ tử chi Minh di, lợi trinh.
Dịch nghĩa: Như ông Cơ Tử ở thời u ám (Minh di), cứ bền giữ đạo chính thì lợi.
Giảng nghĩa: Thường các quẻ khác, hào 5 là ngôi chí tôn, quẻ Minh di này hào trên cùng mới là ngôi chí tôn, hào 5 là người thân cận với ngôi chí tôn. Hào trên cùng là ông vua rất hôn ám như vua Trụ, hào 5 là người thân cận có đức trung, như ông Cơ Tử; ông giả điên để khỏi bị Trụ hại mà sau giữ được dòng dõi nhà Ân, như vậy là giữ vững đạo chính, ở ngoài làm ra vẻ hôn mê, mà trong lòng vẫn sáng suốt.
6. Thượng Lục (Hào 6 âm):
Lời kinh: 上 六: 不明晦, 初登于天, 後入于地.
Dịch âm: Bất minh di, sơ đăng vu thiên, hậu nhập vu địa.
Dịch nghĩa: Không còn là ánh sáng bị tổn thương nữa, lên cao tới trời mà rồi sụp xuống đất.
Giảng nghĩa: Hào trên cùng, âm; ở cuối cùng thời Minh di, lại ở trên cùng ngoại quái Khôn, tức như người có địa vị tối cao mà lại hôn ám cùng cực; như vậy là tối mù mù, chứ không phải chỉ là ánh sáng bị tổn hại (Minh di), nữa, cho nên Hào từ bảo là “bất minh di”. Có cái tượng lên cao tới trời (địa vị tối cao) mà rồi sụp xuống đất.
2. Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Địa Hỏa Minh Di trong chiêm bốc, đoán quẻ
Triệu và điềm của quẻ Minh Di
Quẻ Minh Di có triệu Quá Giang Chiết Kiều – Vô cùng khó khăn. Có bài thơ như sau:
Qua sông phá cầu, việc không thông,
Giao dịch xuất hành, chỉ uổng công.
Cầu tài cầu lộc, đều không được,
Hôn nhân góp vốn, phải về không.
Dụng thần quẻ Minh Di
Quẻ Minh Di so với khảm, quẻ thiếu hào Thê Tài. mậu ngọ, Hỏa, nghĩa là đây là Phục Thần của Minh Di, núp sau Kỷ hợi Huynh Đệ Thủy – là Phi Thần. Quan hệ này tương khắc, nên Phục Thần tuyệt ở Phi Thần.
