Ý nghĩa quẻ 38 – Hỏa Trạch Khuê trong Kinh dịch

Luận Giải Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Số 38 – Quẻ Hỏa Trạch Khuê

Quẻ Phục Hy Số 38 Hỏa Trạch Khuê
Quẻ Phục Hy Số 38 Hỏa Trạch Khuê

Phần 1. Luận đoán quẻ Nhu trong cuộc sống

Ước muốn: Rất khó đạt được ước nguyện.

Hôn nhân: Mâu thuẫn trong gia đình sẽ dẫn đến thất bại. Nếu hôn nhân có diễn ra, những lợi ích và các theo đuổi khác nhau sẽ dẫn đến chia ly.

Tình yêu: Cá tính không giống nhau sẽ dẫn đến chia tay.

Gia đạo: Bất hòa. Gia nghiệp suy vi. Khó khăn và cay đắng.

Con cái: Hình tượng là sự thiếu tình cảm giữa cha mẹ và con cái. Thai nghén: con gái. Có thể sinh khó.

Vay vốn: Khó trở thành hiện thực.

Kinh doanh: Nhiều khó khăn, trở ngại. Sự bất hòa giữa những người hợp tác có thể có nghĩa là do tính toán lầm lẫn hay sai sót, lỗ lã hoặc thất bại.

Chứng khoán: Giá giảm.

Tuổi thọ: Nhiều bệnh và có khả năng đoản thọ.

Bệnh tật: Rất nghiêm trọng. Bác sĩ có thể lầm lẫn trong điều trị. Những bệnh hoặc có sự rối loạn chức năng của các cơ quan nội tạng.

Chờ người: Sẽ không đến.

Tìm người: Tranh cải hoặc ý kiến bất hòa đã khiến người này bò đi. Không dễ gì tìm được những chỗ người này thường lui tới.

Vật bị mất: Đã rơi vào tay người khác. Sẽ không tìm lại được.

Du lịch: hững trở ngại sẽ khiến không thực hiện được mục tiêu hay mục đích của chuyển đi. Tốt nhất hãy ngưng kế hoạch đi xa đó.

Kiện tụng và tranh chấp: Bất lợi. Tốt nhất hãy tìm cách hòa giải.

Việc làm: Không hy vọng.

Thi cử: Điểm kém. Phải coi chừng hiểu sai lời lẽ của các câu hỏi hoặc bị lạc đề.

Kinh doanh mới, thay đổi nghề nghiệp, chuyên môn hay chỗ làm: Bất lợi. Nếu bạn đã bắt tay vào cuộc rồi, bạn sẽ không thực hiện được các hy vọng của mình.

Thời tiết: Nhiều mây.

Phần 2. Luận giải theo ngôn ngữ hiện đại

1. Tên quẻ: Hỏa Trạch Khuê

2. Ý nghĩa tổng quan

Quẻ Hỏa Trạch Khuê tượng trưng cho sự chia lìa, đối nghịch và khác biệt. Trên là Lửa (Hỏa) – hướng lên, dưới là Đầm (Trạch) – hướng xuống, hai thế lực đi ngược chiều nhau, tạo nên sự xa cách. “Khuê” nghĩa là trái nhau, mắt lệch. Quẻ này miêu tả tình trạng bất đồng, hiểu lầm, xung đột trong các mối quan hệ hoặc trong nội bộ. Tuy nhiên, nó cũng chỉ ra rằng sự đối lập và khác biệt là điều tự nhiên, và quan trọng là tìm cách quản lý, hóa giải chúng một cách khéo léo để tìm ra điểm chung.

3. Hình ảnh và biểu tượng

Hình ảnh: “Hỏa thượng hạ trạch” – Lửa ở trên, đầm ở dưới, hai thứ tách biệt. Lửa bốc lên, nước chảy xuống, không gặp nhau.

Biểu tượng: Khuê, quái dã – Khuê là trái ngược, lệch lạc. Và Nhị nữ đồng cư, kỳ chí bất đồng hành – Hai người con gái cùng ở (chỉ hai quái Đoài và Ly đều thuộc âm), nhưng chí hướng không cùng nhau. Biểu tượng của sự thiếu đồng điệu, tâm ý bất đồng.

4. Luận giải từng hào

Hào Sơ Cửu: Hối vong, vô mã, tự phục, kiến ác nhân, vô cửu – Hối hận tiêu tan. Không mất ngựa, nó tự trở về. Gặp người xấu, không có lỗi. Dù có sự chia lìa, xa cách ban đầu, nhưng nếu bản chất tốt (như con ngựa trung thành) thì sẽ tự quay về. Gặp kẻ xấu trong lúc này cũng không thành vấn đề, vì không cùng đường.

Hào Cửu Nhị: Ngộ chủ vu hạng, vô cửu – Gặp chủ (người có thẩm quyền, hoặc ý chí chính) ở trong ngõ hẻm, không có lỗi. Trong hoàn cảnh chia lìa, bế tắc (hạng), nếu gặp được người có thể định đoạt, có chính kiến, thì có thể giải quyết được mà không mắc lỗi.

Hào Lục Tam: Kiến dư dắc, kỳ ngưu yết, kỳ nhân thiên thả tịch, vô sơ hữu chung – Thấy xe kéo bị lật, con bò bị ghìm lại (bị cản). Người ấy bị chặt mũi, cắt chân. Khởi đầu không tốt, nhưng cuối cùng lại có kết quả. Sự chia lìa, trắc trở dẫn đến tổn thương, hình phạt (thiên tịch). Tuy khởi đầu cực kỳ xấu, nhưng nếu biết chịu đựng và vượt qua, cuối cùng vẫn có thể có kết quả nào đó.

Hào Cửu Tứ: Khuê cô, ngộ nguyên phu, giao phu, lệ vô cửu – Cô đơn trong cảnh chia lìa, gặp được người chồng cũ (nguyên phu), giao hòa với nhau, dù có nguy hiểm cũng không lỗi. Trong cảnh cô đơn do bất hòa, nếu gặp lại được người cũ có thiện ý, cùng nhau hàn gắn, thì dù quá trình đó có gian nan cũng không sao.

Hào Lục Ngũ: Hối vong, quyết tông thị phu, vãng hà cửu – Hối hận tiêu tan. Họ hàng cùng ăn thịt, đi đâu mà chẳng có lỗi? Mọi hối hận tan biến khi tìm về với cội nguồn, với họ hàng thân thích (quyết tông). Cùng nhau chia sẻ (thị phu) thì đi đâu làm gì cũng không lỗi. Sự đoàn tụ, hòa giải với gốc rễ, với người thân sẽ giải tỏa mọi hiểu lầm.

Hào Thượng Cửu: Khuê cô, kiến thỉ phụ đồ, tải quỷ nhất xa, tiên trương chi hồ, hậu thuyết chi hồ, phỉ khấu, hôn cấu, vãng ngộ vũ tắc cát – Cô đơn trong cảnh chia lìa, thấy con lợn đầy bùn, một xe toàn ma quỷ. Trước thì giương cung, sau thì buông cung. Chẳng phải cướp, mà là tìm hôn nhân. Tiến lên gặp mưa thì tốt. Cảnh tượng hoang đường, nhập nhằng giữa thực và ảo, thiện và ác (lợn bùn, ma quỷ). Hành động do dự (trước giương sau buông cung). Nhưng hóa ra đó không phải hiểm nguy (cướp) mà là cơ hội kết giao (hôn cấu). Nếu tiến lên một cách thuận tự nhiên (gặp mưa – âm dương giao hòa), thì sẽ tốt. Sự chia lìa cùng cực có thể hóa thành cơ hội bất ngờ.

5. Ứng dụng quẻ trong cuộc sống

Công danh, sự nghiệp: Làm việc trong môi trường thiếu đoàn kết, đồng nghiệp bất hòa, ý kiến trái chiều. Cần tìm tiếng nói chung, tránh xung đột trực diện. Có thể phải làm việc độc lập.

Tài lộc: Dễ xảy ra tranh chấp tài sản, hợp đồng bất đồng. Hợp tác làm ăn dễ đổ vỡ. Nên giữ tài sản riêng rõ ràng, minh bạch trong các giao dịch.

Tình duyên, gia đạo: Vợ chồng, người yêu dễ hiểu lầm, cãi vã, cảm thấy xa cách. Cần giao tiếp nhiều hơn, tìm lại điểm chung. Có nguy cơ chia tay hoặc ly thân.

Sức khỏe: Cơ thể mất cân bằng, âm dương không điều hòa. Các triệu chứng có vẻ trái ngược, khó chẩn đoán. Cần điều chỉnh cả thể chất lẫn tinh thần cho hài hòa.

6. Lời khuyên

Quẻ Khuê dạy ta cách đối diện với sự khác biệt và mâu thuẫn. Trong cuộc sống, không phải lúc nào mọi người cũng cùng quan điểm hay cùng hướng đi. Điều quan trọng là nhìn nhận sự khác biệt đó một cách khách quan, đừng cố ép buộc sự đồng nhất. Hãy như lửa và nước: chúng đối nghịch, nhưng cũng có thể bổ sung cho nhau nếu biết cách sắp xếp (nước đun sôi nhờ lửa). Khi gặp bất hòa, hãy tìm về những giá trị chung, những ký ức tốt đẹp (“nguyên phu”, “quyết tông”). Đôi khi, chính sự cô đơn và xa cách (khuê cô) lại là cơ hội để bạn nhìn rõ hơn bản chất sự việc và tìm ra con đường mới. Hãy nhớ: “Thuận theo tự nhiên, dị tất quy đồng” – trái nhau rồi cũng sẽ trở về chung một mối.

Phần 3. Luận giải theo ngôn ngữ của các bậc tiên nho

1. Quẻ Hỏa Trạch Khuê trong Kinh Dịch

Tổng quan Quẻ Phục Hy Hỏa Trạch Khuê

Quẻ Hỏa Trạch Khuê hay được gọi là Quẻ Khuê, là quẻ số 38 trong 64 Quẻ Kinh Dịch thuộc loại quẻ Hung.

Ngoại quái: ☲ Ly (離) – Hỏa (火) tức Hỏa – Ngũ hành Hỏa.

Nội quái: ☱ Đoài (兌) – Trạch (澤) tức Đầm – Ngũ hành Kim.

Thuộc nhóm tượng quái Cấn, Ngũ hành Thổ.

Thoán từ

Lời kinh: 睽. 小 事 吉.

Dịch âm: Khuê. Tiểu sự cát.

Dịch nghĩa: Chống đối: việc nhỏ thì tốt.

Giải nghĩa: Khuê là trái khác. Là quẻ trên lửa dưới chằm, tính trái khác nhau; con gái giữa, con gái út, chí không cùng về với nhau, cho nên là lìa. Nhưng lấy đức quẻ mà nói, thì trong đẹp lòng mà ngoài sáng sủa; lấy sự biến đổi của quẻ mà nói, thì: ở quẻ Ly lại, là hào mềm tiến lên ở ngôi Ba; ở quẻ Trung phu lại, là hào mềm tiến lên ở ngôi Năm, ở quẻ Gia nhân lại, thì gồm cả hai kiểu đó; lấy thể quẻ mà nói, thì, hào Sáu Năm được chỗ giữa mà phía dưới ứng vớí hào Chín Hai là hào cứng, cho nên lời Chiêm của nó không thể làm việc lớn, mà việc nhỏ còn có cách tốt.

Tượng quẻ

Lời kinh: 象⽈:上⽕下澤,睽,君⼦以同⽽異. 

Dịch âm: Tượng viết: Thượng hỏa, hạ trạch, Khuê, quân tử dĩ đồng nhi dị. 

Dịch nghĩa: Lời Tượng nói rằng: Trên lửa, dưới chằm, là quẻ Khuê. Đấng quân tử coi đó để cùng mà khác. 

Giải nghĩa: Trên lửa dưới chằm, tính của hai vật trái khác nhau, vì vậy mới là tượng lìa cách. Đấng quân tử coi Tượng lìa khác nhau đó, mà trong chỗ đại đồng, biết cái nên khác nhau. Ôi, thánh hiền ở đời, về sự thường của “lẽ người”, chẳng cái gì mà chẳng đại đồng với thế tục, nhưng chỗ đồng nhau đó, có khi lại riêng khác họ. Nghĩa là về sự “cẩu đạo thường của trời cho” thì đồng nhau, mà về sự lỗi lầm của thế tục thì khác nhau. Không thể đại đồng, tức là kẻ thế tục quen làm xằng, cốt ở đồng nhau mà biết khác nhau thôi. 

Các hào

1. Sơ Cửu (Hào 1 dương): 

Lời kinh: 初 九: 悔亡, 喪馬, 勿逐, 自復. 見惡人.无咎.

Dịch âm: Hối vong, táng mã, vật trục, tự phục kiến ác nhân, vô Cửu.

Dịch nghĩa: Hối hận tiêu hết; mất ngựa đừng tìm đuổi, tự nó sẽ về: gặp kẻ ác rồi mới tránh được lỗi.

Giảng nghĩa: Hào này có tính cương , ở địa vị dưới, trong thời chống đối nhau, thì tất ít kẻ hợp với mình, hành động thì sẽ bị hối hận; nhưng may ở trên có hào 4 cũng dương cương , ứng với mình, tức như có bạn đồng chí, cứ chờ đợi rồi sẽ gặp mà bao nhiêu khó khăn, ân hận sẽ tiêu hết. đối với kẻ ác thì tuy không ưa cũng đừng nên tỏ ra, cứ làm bộ vui vẻ giao thiệp họ, để họ khỏi thù oán.

2. Cửu Nhị (Hào 2 dương):

Lời kinh: 九 二: 遇主于巷, 无咎.

Dịch âm: Ngộ chủ vu hạng, vô Cửu.

Dịch nghĩa: Gặp chủ trong ngõ hẹp (do đường tắt) không có lỗi.

Giảng nghĩa: Hào này dương cương đắc trung, ứng với hào 5, âm nhu đắc trung, nếu ở trong quẻ Thái (thời thông thuận) thì rất tốt; nhưng ở trong quẻ Khuê (thời chống đối nhau) thì kém vì hào 5 âm nhu có ý kiêng nể hào 2 dương cương, do đó, 2 muốn gặp 5 thì phải dùng đường tắt, rình 5 trong ngõ hẹp như tình cờ gặp nhau vậy. Không có lỗi gì cả, vì thái độ đó chỉ là quyền biến thôi.

3. Lục Tam (Hào 3 âm):

Lời kinh: 六 三: 見輿曳, 其牛掣; 其人天且劓.无初有終.

Dịch âm: Kiến dư duệ, kì ngưu xệ (hay xiệt); Kì nhân thiên thả nghị, vô sơ hữu chung.

Dịch nghĩa: Thấy xe dắt tới, nhưng con bò bị (hào 4) cản, không tiến được; như người bị xâm vào mặt, xẻo mũi, mới đầu cách trở, sau hòa hợp với nhau.

Giảng nghĩa: Hào 3 bất chính (dương mà ở vị âm), ứng với hào trên cùng cũng bất chính. Vì ứng với nhau nên cầu hợp với nhau, 3 muốn tiến lên gặp hào ứng với nó, nhưng bị hào 4 ở trên ngăn chặn, như cỗ xe đã dắt tới rồi mà con bò bị cản, không tiến được. Lại thêm bị hào 2 ở dưới níu kéo lại. Hào 3 phải chống lại 4 và 2, xô xát với chúng mà bị thương ở mặt ở tai (chữ thiên [天 ] ở đây có nghĩa là bị tội xâm vào mặt, chữ nghị [劓] có nghĩa là bị tội xẻo mũi). Nhưng rốt cuộc là (2 và 4) vẫn không thắng được chính (3) và 3 vẫn hòa hợp được với hào trên cùng.

4. Cửu Tứ (Hào 4 dương):

Lời kinh: 九 四: 睽孤, 遇元夫, 交孚, 厲无咎.

Dịch âm: Khuê cô, ngộ nguyên phu, giao phu, lệ vô Cửu.

Dịch nghĩa: Ở thời chia lìa chống đối mà cô lập; nếu gặp được người trai tốt (nguyên phu), mà chí thành kết hợp với nhau (giao phu) thì dù có gặp nguy, kết quả cũng không có lỗi.

Giảng nghĩa: Hào 4 này cô lập vì là dương mà bị hai hào âm bao vây, người trai tốt đây là hào 1, cùng đức (dương) với 4.

5. Lục Ngũ (Hào 5 âm):

Lời kinh: 六 五: 悔亡, 厥宗噬膚, 往, 何咎.

Dịch âm: Hối vong, quyết tôn phệ phu, vãng, hà Cửu.

Dịch nghĩa: Hối hận tiêu hết; nếu người cùng phe với mình cắn vào da mình (hết sức giúp đỡ mình) thì tiến đi, không có lỗi gì cả.

Giảng nghĩa: Hào này không đắc chính (âm mà ở vị dương), ở vào thời chống đối, đáng lẽ xấu, mà nhờ có đức trung, lại có hào 2 dương cương ứng với mình, nên không xấu nữa, hối hận tiêu tan hết. Được vậy là nhờ hào 2 chịu đứng vào một phe với mình, rất thân thiết với mình, như cắn chặt vào da mình.

6. Thượng Cửu (Hào 6 dương):

Lời kinh: 上 九: 睽孤, 見豕負塗, 載鬼一車.先張之弧, 後說之弧, 匪寇, 婚媾.往遇雨則吉.

Dịch âm: Khuê cô, kiến thỉ phụ đồ, tải quỉ nhất xa. Tiên trương chi hồ, hậu thoát chi hồ, phỉ khấu, hôn cấu. Vãng ngộ vũ tắc cát.

Dịch nghĩa: Ở thời chia lìa mà cô độc (sinh nghi kỵ), thấy con heo đội đầy bùn, thấy chở quỉ đầy một xe. Mới đầu giương cung để bắn, sau buông cung xuống, xin lỗi rằng mình không muốn làm hại hào 3 mà muốn cầu hôn. (Hai bên hòa hợp nhau, vui vẻ) như sau khi nắng lên, gặp cơn mưa, tốt lành gì hơn?

Giảng nghĩa: Ở vào thời chia lìa, người ta hay nghi kỵ nhau, hào cuối cùng này, dương cương ở địa vị tối cao, không tin ai ở dưới cả, cho nên bị cô độc. Ngay hào 3 âm, chính ứng với mình mà cũng bị mình nghi kỵ, vì 3 ở kẹt vào giữa 2 hào dương, cho rằng 3 theo phe 2 hào dương đó mà chống với mình. Vì nghi kỵ, nên thấy 3 như con heo đội bùn, lại tưởng xe mình chở một bầy quỉ muốn hại mình. Do đó mà đâm hoảng, giương cung muốn bắn 3, nhưng nhờ vẫn còn chút minh mẫn (vì ở trên cùng ngoại quái Ly) nên sau nghĩ lại, buông cung xuống, xin lỗi 3: “Tôi không phải là giặc (kẻ thù) muốn làm hại em đâu, mà trái lại muốn cầu hôn với em” Hết nghị kỵ rồi, hai bên hòa hợp vui vẻ như sau khi nắng lâu gặp trận mưa rào, và cùng giúp nhau cứu đời. Văn thật là bóng bẩy, tâm lý cũng đúng: Phan Bội Châu khen là “đạo lý rất tinh thâm mà văn tự cũng ly kỳ biến hoá”.

2. Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Hỏa Trạch Khuê trong chiêm bốc, đoán quẻ

Triệu và điềm của quẻ Khuê

Quẻ Khuê có triệu Phản Mại Trư Dương – Long đong lận đận. Có bài thơ như sau:

Buôn bán lợn dê, đều gặp rủi,

Vận số kinh doanh, không hợp ngành.

Giao dịch xuất hành, đều bất lợi,

Hôn nhân, buôn bán cũng uổng công.

Dụng thần quẻ Khuê

Quẻ Khuê thiếu Thê Tài ở ngũ hào, ở đây là Bính Tý Thủy – là Phục Thần, còn hào ngũ của Khuê là Kỷ Mùi Thổ là Phi Thần. Phi Thần Thổ khắc Phục Thần Thủy, rơi vào dạng “Phi lai khắc phục”, hào Phi diệt hào Phục, do đó Phục Thần không xuất hiện được. Muốn cho Phục xuất hiện, phải làm cho tính Thổ của Phi mất tác dụng phải chờ đến ngày Tý và ngày Mùi, Thổ gặp Không Vong, lúc này Phi Thần mới xuất hiện.