Ý nghĩa quẻ 39 – Thủy Sơn Kiển trong Kinh dịch

Luận Giải Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Số 39 – Quẻ Sơn Thủy Kiển

Quẻ Phục Hy Số 39 Thủy Sơn Kiển
Quẻ Phục Hy Số 39 Thủy Sơn Kiển

Phần 1. Luận đoán quẻ Kiển trong cuộc sống

Ước muốn: Sẽ không trở thành hiện thực được.

Hôn nhân: Không có duyên phận với nhau. Tốt nhất hãy tìm người khác. Có khả năng gặp phải cuộc tình nhiều mặt.

Tình yêu: Rắc rối và thất bại.

Gia đạo: Nghèo khổ, đau buồn và thiếu tình cảm gắn bó giữa mọi người trong nhà. Phải hết sức cố gắng để đảo ngược dòng triều bất hạnh đó.

Con cái: Con cái sẽ gây ra vất vả và khổ đau cho cha mẹ. Thêm nữa, chẳng có tình cảm nào giữa cha mẹ và con cái. Thai nghén: con trai. Có khả năng sẽ bị sinh khó.

Vay vốn: Thất bại.

Kinh doanh: Nhiều khó khăn, với kết quả là lỗ lã hay thất bại. Tốt nhất tạm ngưng.

Chứng khoán: Giá cả tiếp tục giảm đến thảm hại.

Tuổi thọ: Bệnh hoạn và yếu đuối. Có khả năng bị đoản thọ. Phải hết sức cố gắng kiềm chế bản thân.

Bệnh tật: Nghiêm trọng và nguy hiểm. Sẽ bình phục nhờ biết chăm lo tịnh dưỡng. Chứng viêm phúc mạc và những bệnh liên quan đến thận, gan và vùng ngực.

Chờ người: Sẽ không đến.

Tìm người: Thất vọng và nghèo đói đã khiến người này bỏ đi. Có khả năng gặp nguy hiểm. Nếu trong vòng năm tháng mà không tìm được người này, khi đó sẽ không còn hy vọng. Hãy tìm ở hướng Bắc hoặc hướng Đông Bắc.

Vật bị mất: Đã bị đặt lầm hay đã bị lẫn lộn vào trong vật nào đó. Nhẫn nại thì sẽ tìm được. Hãy tìm ở hướng Bắc hoặc hướng Đông Bắc.

Du lịch: Khó khăn dọc trên đường đi.

Kiện tụng và tranh chấp: Khó khăn và tốn thời giờ.

Việc làm: Vô phương hy vọng trong lúc này.

Thi cử: Những câu hỏi khó và điểm kém.

Kinh doanh mới, thay đổi nghề nghiệp, chuyên môn hay chỗ làm: Bất lợi. Hãy chờ dịp khác.

Thời tiết: Thời tiết xấu liên tục.

Phần 2. Luận giải theo ngôn ngữ hiện đại

1. Tên quẻ: Thủy Sơn Kiển

2. Ý nghĩa tổng quan

Quẻ Thủy Sơn Kiển tượng trưng cho sự gian nan, trở ngại và khó khăn chồng chất. Trên là Nước (Thủy) – hiểm trở, dưới là Núi (Sơn) – chướng ngại, tạo thành hình ảnh núi cao nước sâu, đường đi khúc khuỷu, nguy hiểm. “Kiển” có nghĩa là khập khiễng, đi đứng khó khăn. Quẻ này biểu thị một giai đoạn đầy thử thách, tiến thoái lưỡng nan, đòi hỏi phải có sự thận trọng, kiên nhẫn và trí tuệ để tìm lối thoát. Nó cũng khuyên nên dừng lại quan sát khi gặp chướng ngại, chứ không nên cố sức xông pha.

3. Hình ảnh và biểu tượng

Hình ảnh: “Sơn thượng hữu thủy” – Trên núi có nước (thác nước, vực sâu), đường đi lên núi gặp nước chắn, rất khó khăn.

Biểu tượng: Kiển, nan dã, hiểm tiền dã – Kiển là khó, là hiểm trở ở phía trước. Và Kiến hiểm nhi năng chỉ, trí hĩ tai – Thấy hiểm mà biết dừng lại, đó là trí vậy. Biểu tượng của việc biết lượng sức, biết dừng đúng lúc trước nguy hiểm.

4. Luận giải từng hào

Hào Sơ Lục: Vãng kiển, lai dự – Tiến lên thì gian nan, trở lại thì được khen ngợi. Gặp khó khăn ngay từ đầu, nếu cứ cố tiến sẽ gặp họa. Lùi lại một bước, nhận sự chỉ bảo, chuẩn bị kỹ càng thì mới được khen (dự).

Hào Lục Nhị: Vương thần kiển kiển, phi cung chi cố – Bề tôi của vua gặp gian nan khổ sở (kiển kiển), không phải vì lỗi của bản thân hắn. Gặp khó khăn, trở ngại không phải do năng lực hay đạo đức kém, mà là do hoàn cảnh, do sự sắp đặt từ bên trên (vua). Cần giữ vững lòng trung thành và kiên nhẫn.

Hào Cửu Tam: Vãng kiển, lai phản – Tiến lên thì gian nan, trở lại thì yên ổn. Ở vào thế tiến thoái lưỡng nan, nhưng nếu biết lui về (lai phản) để củng cố thế đứng, thì có thể giữ được an toàn. Đừng cố đâm đầu vào khó khăn.

Hào Lục Tứ: Vãng kiển, lai liên – Tiến lên thì gian nan, trở lại thì kết hợp (liên kết). Khi đơn độc không thể vượt khó, hãy lui lại để tìm kiếm liên minh, tìm người đồng hành (lai liên). Sức mạnh tập thể sẽ giúp vượt qua trở ngại.

Hào Cửu Ngũ: Đại kiển, bang lai – Gian nan lớn, bạn bè (cứu viện) đến. Gặp đại nạn, nhưng may mắn có được sự giúp đỡ từ bên ngoài, từ bạn bè, đồng minh (bang lai). Điều này cho thấy đức độ và uy tín của người ở vị trí đó đã thu phục được lòng người.

Hào Thượng Lục: Vãng kiển, lai thạch, cát, lợi kiến đại nhân – Tiến lên thì gian nan, trở lại thì vững như đá (thạch), tốt. Có lợi cho việc gặp gỡ bậc đại nhân. Khi khó khăn đến cùng cực, cách tốt nhất là rút về giữ thế thủ vững chắc (như đá), đồng thời tìm kiếm sự chỉ dẫn và giúp đỡ từ bậc hiền tài, có đức độ lớn (đại nhân).

5. Ứng dụng quẻ trong cuộc sống

Công danh, sự nghiệp: Dự án gặp trở ngại lớn, khó triển khai, đối thủ cản trở. Nên tạm dừng, đánh giá lại, tìm kiếm thêm đồng minh hoặc sự hỗ trợ từ cấp trên. Không nên cưỡng ép tiến hành.

Tài lộc: Đường tài lộc bế tắc, đầu tư bị đóng băng, vay mượn khó khăn. Nên thắt chặt chi tiêu, bảo toàn vốn, chờ thời cơ tốt hơn. “Dừng lại là thượng sách”.

Tình duyên, gia đạo: Mối quan hệ trắc trở, gia đình có chuyện khó giải quyết, như có vật chắn ngang. Cần kiên nhẫn đối thoại, tìm sự hòa giải, có khi cần nhờ người ngoài giúp đỡ.

Sức khỏe: Bệnh tình kéo dài, khó chữa, sức khỏe suy kiệt. Cần nghỉ ngơi tuyệt đối, tìm phương pháp điều trị mới hoặc bác sĩ giỏi hơn. Vận động nhẹ nhàng, tránh gắng sức.

6. Lời khuyên

Quẻ Kiển dạy ta nghệ thuật của sự dừng lại và tìm đồng đội trong lúc khó khăn. Khi con đường phía trước là vách núi cheo leo và vực nước sâu thẳm, việc cố gắng leo lên hoặc lội qua một mình là hành động liều lĩnh. Hãy “kiến hiểm nhi năng chỉ” – thấy hiểm mà biết dừng. Lui lại không có nghĩa là thất bại, mà là để quan sát, để củng cố lực lượng, và quan trọng nhất là để “lai liên” – kết nối với những người có thể cùng bạn vượt núi. Hãy nhớ rằng, gian nan thử thách lòng người. Trong cơn đại kiển, những người bạn thật sự (bang lai) sẽ xuất hiện. Hãy giữ tâm thế vững như đá (lai thạch) và tìm đến sự chỉ dẫn của bậc minh sư (đại nhân). Mọi khó khăn rồi sẽ qua, quan trọng là bạn vượt qua nó bằng cách nào.

Phần 3. Luận giải theo ngôn ngữ của các bậc tiên nho

1. Quẻ Sơn Thủy Kiển trong Kinh Dịch

Tổng quan Quẻ Phục Hy Sơn Thủy Kiển

Quẻ Thủy Sơn Kiển hay được gọi là Quẻ Kiển, là quẻ số 39 trong 64 Quẻ Kinh Dịch thuộc loại quẻ Hung.

Ngoại quái: ☵ Khảm (坎) – Thủy (水) tức Nước – Ngũ hành Thủy.

Nội quái: ☶ Cấn (艮) – Sơn (山) tức Núi – Ngũ hành Thổ.

Thuộc nhóm tượng quái Đoài, Ngũ hành Kim.

Thoán từ

Lời kinh: 蹇利西南, 不利東北, 利見大人, 貞吉.

Dịch âm: Kiển lợi Tây Nam, bất lợi Đông Bắc, lợi kiến đại nhân, trinh cát.

Dịch nghĩa: Gian nan: đi về Tây nam thì lợi, về đông Bắc thì bật lợi. Gặp đại nhân giúp cho thì lợi; bền giữa đạo chính thì mới tốt.

Giải nghĩa: Kiển nghĩa là nạn, cái nạn chân không đi được. Nó là quẻ Cấn dưới Khảm trên, thấy chỗ hiểm trở, đương ở trong hồi chữ Kiển, không nên chạy vào chỗ hiểm. Lại, quẻ này tự quẻ Tiểu quá mà lại, khí Dương tiến lên thì ở ngôi Năm mà được ở giữa, lui xuống thì vào thể Cấn mà không tiến được, cho nên lời chiêm của nó là lợi Tây Nam, mà không có lợi Đông Bắc. Đương thì Kiển phải thấy người lớn, rồi mới có thể qua nạn, lại phải giữ cho chính đính, thì mới được tốt. Mà hào Chín Năm trong quẻ, cứng mạnh, trung chính, có Tượng người lớn, từ hào Hai trở lên, năm hào đều được ngôi chính, thì lại là nghĩa “trinh” nửa, cho nên lời chiêm của nó lại nói “lợi thấy người lớn, chính thì tốt”. Bởi vì thấy chỗ hiểm, quí ở biết đậu, mà lại không thể đậu đến cùng chót, ở chỗ hiểm thì lợi về tiến lên, nhưng không thể bỏ mất chính đạo.

Tượng quẻ

Lời kinh: 象⽈:⼭上有⽔,蹇,君⼦以反⾝修德. 

Dịch âm: Tượng viết: Sơn thượng hữu thủy. Kiển, quân tử dĩ phản thân tu đức. 

Dịch nghĩa: Lời Tượng nói rằng: Trên núi có nước, là quẻ Kiển, đấng quân tử coi đó mà trở lại mình, sửa đức. 

Giải nghĩa: Cao thẳm như núi, trên lại có nước, nước Khảm là Tượng hiểm trũng, trên dưới hiểm trở, cho nên là kiển đấng quân tử coi Tượng hiểm khó đó mà trở lại mình, sửa đức. Đấng quân tử gặp sự hiểm trở, ắt phải trở lại tìm trong mình mình mà càng tự mình sửa mình. Thầy Mạnh nói rằng: “Làm có điều gì không được, đều trở lại tìm trong mình mình”, cho nên gặp sự khó kiển, ắt tự xét mình xem có điều gì lầm lỗi mà đến thế chăng, đó là trở lại mình. Có điều chưa phải thì chữa, không có điều gì áy náy trong bụng thì càng gắng thêm, đó là tự sửa đức mình. Đấng quân tử sửa đức, để chờ thời mà thôi. 

Các hào

1. Sơ Lục (Hào 1 âm: 

Lời kinh: 初 六: 往蹇, 來譽.

Dịch âm: Vãng kiển, lai dự.

Dịch nghĩa: Tiến lên thì gặp nạn, lui lại (hoặc ngừng) thì được khen.

Giảng nghĩa: Vào đầu thời gian nan, hào 1 này âm nhu, không có tài, tiến lên hay hành động thì xấu, chỉ nên chờ thời.

2. Lục Nhị (Hào 2 âm):

Lời kinh: 六 二: 王臣蹇蹇, 匪躬之故.

Dịch âm: Vương thần kiển kiển, phỉ cung chi cố.

Dịch nghĩa: Bậc bề tôi chịu gán hết gian nan này tới gian nan khác là vì vua, vì nước, chứ không phải vì mình.

Giảng nghĩa: Hào này cũng âm nhu, kém tài, nhưng đắc trung đắc chính, có đức, được vua (hào 5, dương mà cũng trung chính) phó thác việc nước, nên phải chống chỏi với mọi gian nan, không dám từ, mặc dầu tự biết không chắc gì cứu nước, cứu dân được trong thời khó khăn này. Hoàn toàn không vì mình, đáng khen.

3. Cửu Tam (Hào 3 dương):

Lời kinh: 九 三: 往蹇, 來反.

Dịch âm: Vãng kiển, lai phản.

Dịch nghĩa: Tiến tới thì mắc nạn, nên trở lại.

Giảng nghĩa: Hào này dương cương đắc chính, nhưng vẫn còn ở nội quái, tức chưa hết nửa thời gian nan, lại thêm hào trên cũng âm nhu, ứng với nó mà không giúp được gì, nên Hào từ khuyên đừng tiến, cứ quay lại với hào âm thì vui vẻ hơn; bề gì cũng là bạn cũ rồi.

4. Lục Tứ (Hào 4 âm):

Lời kinh: 六 四: 往蹇, 來連.

Dịch âm: Vãng kiển, lai liên.

Dịch nghĩa: Tiến tới thì mắc nạn, nên trở lại mà liên hiệp với các hào dưới.

Giảng nghĩa: Hào này âm nhu, kém tài, đã tiến lên ngoại quái, quá nữa thời gian nan, nhưng lại gặp hiểm trở (ngoại quái là Khảm) cũng không nên tiến lên, mà nên lùi lại với hào 3, liên hợp với ba hào ở dưới, để thêm thế lực.

5. Cửu Ngũ (Hào 5 dương):

Lời kinh: 九 五: 大蹇, 朋來.

Dịch âm: Đại kiển, bằng lai.

Dịch nghĩa: Cực kỳ gian nan, nhưng có bạn tới giúp.

Giảng nghĩa: Ở giữa ngoại quái khảm (hiểm) cho nên cực kỳ gian nan. Hào này như ông vua có tài, nhưng cũng khó thoát được hiểm. May có hào 2 đắc trung, đắc chính ứng với mình, sẳn lòng dắt các bạn tức các hào 1, 3, 5 tới giúp mình. Nhưng các hào ấy đều ít tài, trừ hào 3; như vậy là tay chân của 5 tầm thường cả, không làm nên việc lớn, nên Hào từ không khen là tốt. Cũng không dùng chữ lai, không bảo nên lùi vì địa vị nguyên thủ của 5 không cho phép 5 lùi được, lùi thì trút trách nhiệm cho ai?

6. Thượng Lục (Hào 6 âm):

Lời kinh: 上 六: 往蹇, 來碩, 吉.利見大人.

Dịch âm: Vãng kiển, lai thạc, cát, lợi kiến đại nhân.

Dịch nghĩa: Tiến tới thì gian nan, lùi lại thì làm được việc lớn, tốt; nên tìm gặp đại nhân thì có lợi.

Giảng nghĩa: Ở cuối thời gian nan, có cảnh tượng đáng mừng; hào này âm nhu, không một mình mạo hiểm được nên quay lại giúp hào 5, bậc đại nhân (có tài đức), thì lập được công lớn (thạc), tốt.

2. Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Sơn Thủy Kiển trong chiêm bốc, đoán quẻ

Triệu và điềm của quẻ Kiển

Quẻ Kiển có triệu Vũ Tuyết Tải Đồ – Mưu sự không đúng. Có bài thơ như sau:

Tuyết rơi đầy đường, rất khó đi,

Giao dịch xuất hành, chẳng có chi.

Hôn nhân bệnh tật đều trở ngại,

Mưu sự cầu tài, thật gian nan.

Dụng thần quẻ Kiển

Quẻ Kiển thiếu một thân là Thê Tài Đinh Măo Mộc, đây là Phục thần và Phi Thần là Quan Quỷ Bính Ngọ Hỏa. Trường hợp này là “Phục Sinh Phi vi tiết khí”, nghĩa là Phục Thần Mộc Sinh Phi Thần Hỏa. Người trợ giúp cho mình quá sức nên kiệt sức.