Luận Giải Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Số 44 – Quẻ Thiên Phong Cấu

Phần 1. Luận đoán quẻ Phong Cấu trong cuộc sống
Ước muốn: Những trở ngại bất ngờ sẽ dẫn đến thất bại.
Hôn nhân: Cuộc hôn nhân không tốt lành, tốt nhất hãy nghĩ lại.
Tình yêu: Phía bên kia thiếu thành thật.
Gia đạo: Lời khuyên là nên cẩn thận, bởi cơ đồ của gia đình đang bắt đầu xuống dốc.
Con cái: Hành vi không thỏa đáng của con cái sẽ gây ra khó khăn và đau buồn cho cha mẹ. Hãy hết sức chú ý đến việc giáo dục và rèn luyện chúng. Thai nghén: con gái.
Vay vốn: Không dễ gì có kết quả. Hãy tìm sự giúp đỡ của một phụ nữ và có thể thành công.
Kinh doanh: Có thể bị lỗ và thất bại. Nhưng những kinh doanh có liên quan đến phụ nữ, nước hoa, hoa, mỹ phẩm,… sẽ phát đạt.
Chứng khoán: Giá cả sẽ giảm xuống kể từ bây giờ.
Tuổi thọ: Khỏe mạnh một cách tự nhiên. Bệnh tật có thể gây hại, đồng thời khiến bạn khó giữ được sức khỏe tốt. Hãy chăm sóc cơ thể.
Bệnh tật: Bệnh tình đang xấu đi. Chăm sóc cẩn thận là cần thiết. Bệnh truyền qua đường sinh dục, bệnh lao, bệnh trĩ.
Chờ người: Nếu đó là phụ nữ, cô ta sẽ đến. Nếu đó là người nam, anh ta sẽ gặp trở ngại trên đường và không đến.
Tìm người: Các vướng mắc tình ái sẽ làm cho việc tìm kiếm kéo dài. Nhưng người này an toàn và khỏe mạnh. Anh ta có thể tự trở về, hoặc có thể biết được những nơi thường lui tới của anh ta. Hãy tìm ở phía Tây hoặc Tây Bắc.
Vật bị mất: Có thể tìm thấy ở nơi bất ngờ nào dó. Hãy tìm ở phía Tây hoặc Tây Bắc.
Du lịch: Một cuộc gặp gỡ cát tường dọc trên đường đi, đặc biệt là đối với phụ nữ.
Kiện tụng và tranh chấp: Kéo dài, mất thời gian và bất lợi.
Việc làm: Không thành công. Việc tìm sự giúp đỡ của một phụ nữ có thể dẫn đến thành công.
Thi cử: Điểm kém.
Kinh doanh mới, thay đổi nghề nghiệp, chuyên môn hay chỗ làm: Không thuận lợi. Các trở ngại sẽ ngăn cản việc biến thành hiện thực.
Thời tiết: Hiện thời tiết đang tốt nhưng sẽ xấu đi kể từ bây giờ.
Phần 2. Luận giải theo ngôn ngữ hiện đại
1. Tên quẻ: Thiên Phong Cấu
2. Ý nghĩa tổng quan
Quẻ Thiên Phong Cấu tượng trưng cho sự gặp gỡ, tiếp xúc, đặc biệt là sự gặp gỡ giữa âm và dương (nữ và nam). Trên là Trời (Thiên) – cương kiện, dưới là Gió (Phong) – xâm nhập khắp nơi. Hình ảnh một hào âm (nữ) xuất hiện bên dưới năm hào dương (nam), tượng trưng cho sự khởi đầu của một mối quan hệ, một cuộc gặp gỡ định mệnh. Tuy nhiên, “Cấu” cũng có nghĩa là “ngẫu gặp”, có thể là tốt (gặp gỡ lành) nhưng cũng có thể là xấu (gặp phải điều không hay, dục vọng). Quẻ này nhấn mạnh sự thận trọng trong các mối quan hệ mới.
3. Hình ảnh và biểu tượng
Hình ảnh: Thiên hạ hữu phong – Dưới trời có gió. Gió thổi khắp nơi, gặp gỡ vạn vật.
Biểu tượng: Cấu, ngộ dã, nhu ngộ cương dã – Cấu là gặp gỡ, là nhu (mềm) gặp cương (cứng). Và Thiên địa tương ngộ, phẩm vật hàm chương dã – Trời đất gặp nhau, muôn vật đều tỏ rõ vẻ đẹp. Biểu tượng của sự hòa hợp âm dương, của duyên phận và cơ hội.
4. Luận giải từng hào
Hào Sơ Lục: Hệ vu kim nê, trinh cát, hữu du vãng, kiến hung, yểm phu thạch – Buộc vào cái thắng đồng (kim nê, vật cứng), giữ chính bền thì tốt. Có nơi để đi, nhưng thấy điều hung. Như con heo ốm bị kéo lê. Cuộc gặp gỡ ban đầu bị ràng buộc bởi thứ cứng nhắc, nặng nề (kim nê – có thể là định kiến, ràng buộc xã hội). Dù có chỗ để phát triển (hữu du vãng), nhưng thấy trước nguy hiểm (kiến hung). Cảm giác bị động, khó chịu.
Hào Cửu Nhị: Bao hữu dư, vô cửu, bất lợi tân – Trong bao có cá (có của, có tài), không lỗi. Không lợi cho việc đón khách (tân). Bản thân có tài năng, có thực lực (bao hữu dư). Điều đó không sai. Nhưng trong cuộc gặp gỡ này, không nên vội vàng mời gọi, tiếp đón người khác (bất lợi tân). Hãy giữ vị thế của mình.
Hào Cửu Tam: Đồn vô phu, kỳ hành từ thứ, lệ, vô đại cửu – Bắp đùi không da (tổn thương, yếu), đi đứng khó khăn. Nguy, nhưng không có lỗi lớn. Bản thân có điểm yếu, hành động không thuận lợi trong cuộc gặp gỡ. Tuy có nguy hiểm nhưng vì không chủ ý xấu nên không đến nỗi có lỗi lớn.
Hào Cửu Tứ: Bao vô dư, khởi hung – Trong bao không có cá (trống rỗng), khởi sự sẽ xấu. Bản thân không có thực lực, trống rỗng (bao vô dư). Nếu cứ khởi sự một mối quan hệ hoặc công việc mới trong tình trạng này, ắt sẽ gặp hung.
Hào Cửu Ngũ: Dĩ kỷ bao qua, hàm chương, hữu du tự thiên – Dùng cây kỷ (một loại cây quý) đan thành giỏ, chứa đựng vật quý (hàm chương). Có phúc từ trời. Ở vị trí tôn quý, dùng những thứ cao quý, đẹp đẽ (kỷ, chương) để đón nhận cuộc gặp gỡ. Đó là điều tốt lành, như có phúc trời giúp.
Hào Thượng Cửu: Cấu kỳ giác, lận, vô cửu – Gặp gỡ ở cái sừng (góc cạnh, nơi cao nhất), khó khăn, nhưng không có lỗi. Cuộc gặp gỡ diễn ra ở nơi cao, cứng nhắc, góc cạnh (giác). Cảm thấy ngượng ngùng, khó xử (lận). Nhưng vì không có ý xấu nên cũng không có lỗi.
5. Ứng dụng quẻ trong cuộc sống
Công danh, sự nghiệp: Có cơ hội gặp gỡ đối tác mới, đồng nghiệp mới, hoặc một cơ hội công việc bất ngờ. Cần thận trọng quan sát, đừng vội tin tưởng hay hợp tác ngay. Có thể gặp quý nhân.
Tài lộc: Có thể có cơ hội kiếm tiền bất ngờ, hoặc được ai đó tặng quà. Nhưng cần xem xét kỹ nguồn gốc, tránh của “ngậm bã cà phê”. Đầu tư mới cần cân nhắc.
Tình duyên, gia đạo: Dễ có cuộc gặp gỡ định mệnh, bắt đầu một mối tình mới. Tuy nhiên, cần tìm hiểu kỹ đối phương, tránh say nắng vội vàng. Với người đã có gia đình, quẻ này cảnh báo về những cuộc gặp gỡ ngoài luồng có thể gây rắc rối.
Sức khỏe: Có thể nhiễm bệnh từ môi trường bên ngoài, hoặc gặp vấn đề sức khỏe do tiếp xúc với thứ gì đó lạ. Cần giữ vệ sinh, nâng cao sức đề kháng.
6. Lời khuyên
Quẻ Cấu dạy ta sự thận trọng trong mọi cuộc gặp gỡ. Gặp gỡ là khởi nguồn của mọi mối quan hệ, có thể mang lại cơ hội vàng hoặc tai họa khôn lường. Hãy như người quân tử, “dĩ kỷ bao qua”, dùng tấm lòng cao quý và sự sáng suốt để đón nhận. Đừng vì vẻ bề ngoài hay cảm xúc nhất thời mà vội vàng trao gửi niềm tin. Hãy xem xét xem mình đang “bao hữu dư” (có thực lực) hay “bao vô dư” (trống rỗng
Phần 3. Luận giải theo ngôn ngữ của các bậc tiên nho
1. Quẻ Thiên Phong Cấu trong Kinh Dịch
Tổng quan Quẻ Phục Hy Thiên Phong Cấu
Quẻ Thiên Phong Cấu hay được gọi là Quẻ Cấu, là quẻ số 44 trong 64 Quẻ Kinh Dịch thuộc loại quẻ Bình Hòa.
Ngoại quái: ☰ Càn (乾) – Thiên (天) tức Trời – Ngũ hành Kim.
Nội quái: ☴ Tốn (巽) – Phong (風) tức Gió – Ngũ hành Mộc.
Thuộc nhóm tượng quái Càn, Ngũ hành Kim.
Thoán từ
Lời kinh: 垢, 女壯, 勿用取女.
Dịch âm: Cấu, nữ tráng, vật dụng thú nữ.
Dịch nghĩa: Quẻ Cấu, con gái mạnh, chớ dùng lấy con gái.
Giải nghĩa: Một khi Âm mới sinh, từ đó mà lớn dần dần, rồi đến thịnh lớn, đó là con gái sắp sửa lớn mạnh, Âm lớn thì Dương tiêu, con gái mạnh thì con trai yếu, cho nên nói rằng: “Chớ lấy hạng con gái như thể”. Lấy vợ muốn được những người mềm mỏng, thuận theo, để làm cho nên đạo nhà. Quẻ Cấu là khí Âm tiến, dần dần mạnh lên mà địch nhau với khí Dương, cho nên không thể lấy. Con gái mạnh dần thì mất sự chính đính trong đạo trai gái, thế là đạo nhà hỏng rồi. Quẻ Cấu tuy một hào Âm rất nhỏ, nhưng nó có cơ lớn dần, vì vậy phải răn.
Tượng quẻ
Lời kinh: 象⽈:天下有⾵,垢,後以施命語四⽅.
Dịch âm: Tượng viết: Thiện hạ hữu phong, Cấu, hậu dĩ thi mệnh cáo tứ phương.
Dịch nghĩa: Lời Tượng nói rằng: Dưới trời có gió, là quẻ Cấu vui coi đó mà ra mệnh bảo bốn phương.
Giải nghĩa: Gió đi dưới trời, không đâu không khắp, kẻ làm vua chúa coi tượng quay khắp đó để thi hành mệnh lệnh, bảo khắp bốn phương. Giá đó trên đất, với dưới trời có gió, đều là Tượng “quanh khắp mọi vật” mà đi ở trên đất, khắp đụng muôn vật thì là quẻ Quán, đó là Tượng, từng trải xem xét vậy, “đi ở dưới trời quanh khắp bốn phương” thì là quẻ Cấu, đó là Tượng thi hành mệnh lệnh vậy. Các Tượng, hoặc nói “đấng tiên vương”, hoặc nói “vua”, hoặc nói “đấng quân tử”, bậc “người lớn”, nói “đấng tiên vương” như “đấng tiên vương” dùng để lập phép, dựng nước, dấy nhạc, xét các phương, truyền pháp, đóng ải, nuôi các vật, cúng trời, nói “vua” là việc vua chúa thửa làm, như “sử nên đạo trời đất” “ra mệnh bốn phương”, “quân tử” là tiếng gọi chung người trên người dưới, “người lớn” thì tiếng gọi tước vương công.
Các hào
1. Sơ Lục (Hào 1 âm):
Lời kinh: 初 六: 繫于金柅, 貞吉.有攸往見凶.羸豕孚蹢躅.
Dịch âm: Hệ vu Kim nê, trinh cát; hữu du vãng kiến hung. Luy thỉ phu trịch trục.
Dịch nghĩa: Chặn nó lại bằng cái hãm xe bằng kim khí, thì đạo chính mới tốt; nếu để cho nó (hào 1) tiến lên thì xấu. Con heo ấy tuy gầy yếu, nhưng quyết chắc có ngày nó sẽ nhảy nhót lung tung.
Giảng nghĩa: Hào âm (tiểu nhân) này mới xuất hiện, phải chặn ngay nó mới được, đừng cho nó tiến lên thì đạo chính của người quân tử mới tốt; nếu để nó tiến lên thì xấu. Vì bây giờ nó tuy còn non, yếu, nhưng một ngày kia nó sẽ mạnh, nhảy nhót lung tung. Đừng nên coi thường nó.
Đó là cách trừ kẻ tiểu nhân mà cũng là cách trừ những tật mới phát sinh.
2. Cửu Nhị (Hào 2 dương):
Lời kinh: 九 二: 包有魚, 无咎.不利賓.
Dịch âm: Bao hữu ngư, vô Cửu; bất lợi tân.
Dịch nghĩa: Nhốt con cá (hào 1) vào trong bọc, không có lỗi; nhưng đừng cho nó (hào 1) gặp khách.
Giảng nghĩa: Hào 2 này tuy ở sát hào 1, nhưng có đức dương cương , lại đắc trung , cho nên chế ngự được 1, như nhốt lỏng nó trong cái bao (ví hào 2 với con cá vì cá thuộc âm), như vậy không có tội lỗi.
Nhưng 1 chính ứng với hào 4; 4 muốn làm thân với 1 lắm, nó bất trung bất chính, không có đức như 2, sẽ bị 1 mê hoặc mất, cho nên Hào từ khuyên hào 2 phải ngăn không cho 1 gặp 4 (chữ tân là khách, trỏ hào 4).
3. Cửu Tam (Hào 3 dương):
Lời kinh: 九 三: 臀无膚, 其行次且, 厲, 无大咎.
Dịch âm: Đồn vô phu, kì hành tư thư, lệ, vô đại Cửu.
Dịch nghĩa: Như bàn toạ không có da (ngồi không yên mà đứng dậy) đi thì chập chững, có thể nguy đấy, nhưng không có lỗi lớn.
Giảng nghĩa: Hào 3 này quá cương (dương ở vị dương), bất trung, muốn có bạn là 1, nhưng hào 2 đã là bạn của 1 rồi; ngó lên trên có hào trên cùng ứng với 3, nhưng cũng là dương như 3, thành thử có vẻ ngồi không an, mà đi thì chập chững, có thể nguy đấy. Nhưng nó đắc chính (dương ở vị dương) nên biết giữ đạo, không mắc lỗi lớn.
4. Cửu Tứ (Hào 4 dương):
Lời kinh: 九 四: 包无魚, 起凶.
Dịch âm: Bao vô ngư, khởi hung.
Dịch nghĩa: Trong bọc của mình không có cá, hoạ sẽ phát.
Giảng nghĩa: Hào này ứng với 1, nhưng bị 2 ngăn không cho gặp (coi lại hào 2), 1 đã như ở trong cái bọc của 2 rồi, cho nên cái bọc của 4 không có gì cả. Sở dĩ vậy cũng do lỗi của 4, bất trung, bất chính, làm mất lòng 1. Người trên mà mất lòng kẻ dưới, thì hoạ sẽ phát.
5. Cửu Ngũ (Hào 5 dương):
Lời kinh: 九 五: 以杞包瓜, 含章, 有隕自天.
Dịch âm: Dĩ kỉ bao qua, hàm chương, hữu vẫn tự thiên.
Dịch nghĩa: Dùng cây kỉ mà bao che cây dưa, ngậm chứa đức tốt, (sự tốt lành) từ trên trời rớt xuống.
Giảng nghĩa: Hào này ở địa vị tối cao, dương cương, trung chính, có đức tốt mà không khoe khoang (ngậm chứa đức tốt), bao bọc cho kẻ tiểu nhân ở dưới (hào 1) như cây kỉ, cao, cành lá xum xuê che cây dưa (thuộc loài âm). Như vậy là hợp đạo trời, sẽ được trời ban phúc cho.
6. Thượng Cửu (Hào 6 dương):
Lời kinh: 上 九: 姤其角, 吝, 无咎.
Dịch âm: Cấu kì giác, lận, vô Cửu.
Dịch nghĩa: Gặp bằng cái sừng, đáng hối tiếc, không đổ lỗi cho ai được.
Giảng nghĩa: Hào này ở trên cùng, thời Cấu (gặp gỡ) cho nên ví với cặp sừng. Gặp nhau mà bằng cặp sừng (đụng nhau bằng sừng) ý nói quá cương, đáng hối tiếc. Mọi sách đều dịch “vô cữu” là không có lỗi mà không giảng tại sau quá cương mà không có lỗi. Riêng Phan Bội Châu hiểu là: không đổ lỗi cho ai được.
2. Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Thiên Phong Cấu trong chiêm bốc, đoán quẻ
Triệu và điềm của quẻ Cấu
Quẻ Cấu có triệu Tha Hương Ngộ Hữu – Thời vận đã đến. Có bài thơ như sau:
Gặp bạn quê người, thật là may,
Vận khí đi lên, thoát cảnh hàn.
Từ nay thay đổi, lộc tài đến,
Phú quý vinh hoa, chỉ đợi ngày.
Dụng thần quẻ Cấu
Quẻ Cấu thuộc nhóm quẻ Càn, tính Kim. Tính ngũ hành tổng thể của quẻ thiếu Mộc (so với Càn làm chuẩn). Hào Mộc Giáp Dần tại Càn ở hào nhị, nên nó là Phục Thần của hào nhị quẻ Cấu ở Tân Hợi, Tân Hợi chính là Phi Thần. Tân Hợi tính Thủy, mà Mộc (Giáp Dần) trường sinh tại Hợi. Vậy Hợi sinh Dần (Thủy sinh Mộc), Phi sinh Phục. Do đó Giáp Dần tuy phục (núp, ẩn) nhưng vẫn xuất hiện được. Do vậy, qua dự báo, những thông tin các chiều (xấu, tốt, hay, dở,…) liên quan đến Phục Thần Giáp Dần đều thể hiện rõ nét, không phải chờ đợi.
