Ý nghĩa quẻ 47 – Trạch Thủy Khốn trong Kinh dịch

Luận Giải Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Số 47 – Quẻ Trạch Thủy Khốn

Quẻ Phục Hy số 47 Trạch Thủy Khốn
Quẻ Phục Hy số 47 Trạch Thủy Khốn

Phần 1. Luận đoán quẻ Khốn trong cuộc sống

Ước muốn: Khó thành.

Hôn nhân: Cuộc hôn nhân khốn khổ, bất cân xứng. Sẽ không thành công. Tốt nhất hãy tìm đối tượng khác.

Tình yêu: Sẽ kết thúc trong thất bại.

Gia đạo: Gia sản sa sút, khó khăn tài chính. Phải làm việc cật lực và đấu tranh để mở ra cơ đồ cho gia đình. Cuối cùng bạn sẽ thành công khi gặt hái được quả thịnh vượng.

Con cái: Không có con hoặc bị khổ sở vì con cái. Thai nghén: con gái.

Vay vốn: Sẽ không thành công.

Kinh doanh: Nhiều trở ngại, việc làm ăn sẽ không diễn ra đúng như mong đợi.

Chứng khoán: Giá thấp, thậm chí sẽ còn giảm giá nhiều hơn nữa.

Tuổi thọ: Bệnh hoạn và yếu ớt. Sống yểu nếu không biết nghiêm khắc với bản thân.

Bệnh tật: Bệnh nặng, kéo dài. Hy vọng bình phục nằm ở các kỹ thuật điều trị tăng cường. Các bệnh về phổi và các bệnh ảnh hưởng đến nội tạng của ngực và vùng bụng.

Chờ người: Sẽ không đến. Có khả năng sau một thời gian dài người này mới đến.

Tìm người: Không biết được những chỗ thường lui tới của người này. Chẳng làm được gì ngoại trừ chờ cho các biên cố diễn ra thuận theo tự nhiên. Do đó tự nhiên sẽ có tin tức.

Vật bị mất: Chẳng dễ gì tìm được. Hãy tìm ở hướng Bắc hay hướng Tây.

Du lịch: Không thuận lợi.

Kiện tụng và tranh chấp: Mất nhiều thời gian và đầy đau buồn. Tốt nhất hãy từ bỏ hoặc cứ mặc cho vụ việc được giải quyết thuận theo tự nhiên.

Việc làm: Không hy vọng.

Thi cử: Điểm thấp.

Kinh doanh mới, thay đổi nghề nghiệp, chuyên môn hay chỗ làm: Chưa đúng lúc thích hợp.

Thời tiết: Thời tiết liên tục xấu.

Phần 2. Luận giải theo ngôn ngữ hiện đại

1. Tên quẻ: Trạch Thủy Khốn

2. Ý nghĩa tổng quan

Quẻ Trạch Thủy Khốn tượng trưng cho sự cùng khốn, bế tắc và thiếu thốn. Trên là Đầm (Trạch) – bị hao tổn, dưới là Nước (Thủy) – thấm xuống, chìm đi. Hình ảnh nước ở dưới thấm xuống khiến đầm ở trên cạn kiệt, hoặc con người bị vây khốn trong vòng nguy hiểm. Quẻ này biểu thị một giai đoạn cực kỳ khó khăn, tài lực kiệt quệ, tinh thần suy sụp, bị vây hãm bốn bề. Đây là lời cảnh báo về sự nguy hiểm, nhưng cũng là lời khuyên về việc giữ vững khí tiết và đức tin trong nghịch cảnh.

3. Hình ảnh và biểu tượng

Hình ảnh: Trạch vô thủy – Đầm không có nước. Khô cạn, bế tắc.

Biểu tượng: Khốn, cương một dã – Khốn là dương (cương) bị che lấp, vùi lấp. Và Quân tử trí mệnh – Người quân tử biết an phận với mệnh trời (trong cảnh khốn). Biểu tượng của sự thử thách tột cùng, của lòng kiên trinh và trí tuệ vượt khó.

4. Luận giải từng hào

Hào Sơ Lục: Đồn thu, vu thụ lộc, nhập vu u cốc, tam tuế bất đắc – Mông mông, ở trong rừng rậm, đi vào hang sâu tối tăm, ba năm không ra được. Lâm vào cảnh mù mịt, tối tăm, bế tắc sâu sắc. Cảm giác bị giam cầm, không lối thoát trong thời gian dài (tam tuế).

Hào Cửu Nhị: Khốn vu tửu thực, chu phất phương lai, lợi dụng tế tự, chinh hung, vô cửu – Bị khốn vì rượu thịt (vật chất), chuội đỏ sắp đến (có người giúp). Có lợi trong việc tế tự (giữ đạo). Tiến lên thì xấu, nhưng không có lỗi (vì hoàn cảnh). Bị cái nghèo, cái thiếu về vật chất làm cho khốn đốn. Nhưng có dấu hiệu cứu viện (chu phất). Trong lúc này, hãy giữ vững đức tin và đạo lý (tế tự). Hành động mạnh (chinh) sẽ nguy, nhưng bản thân không có lỗi vì hoàn cảnh.

Hào Lục Tam: Khốn vu thạch, cứ vu tắc lật, nhập vu kỳ cung, bất kiến kỳ thê, hung – Bị khốn vì đá, dựa vào gai góc, vào nhà mình mà không thấy vợ, xấu. Bị vây khốn bởi những thứ cứng nhắc, hiểm trở (thạch, tắc lật). Trở về nơi được cho là an toàn (cung) cũng không tìm thấy chỗ dựa (thê). Tình thế cực kỳ nguy hiểm và cô độc.

Hào Cửu Tứ: Lai tầm tầm, khốn vu kim xa, hữu chung – Đến một cách chậm rãi, bị khốn vì xe đồng (xe tù), nhưng cuối cùng có kết thúc. Có sự cứu viện đến (lai), nhưng chậm chạp. Vẫn bị trói buộc, giam cầm (kim xa), nhưng cuối cùng mọi chuyện cũng sẽ kết thúc, có hy vọng.

Hào Cửu Ngũ: Di tịch tất, khốn vu xích phất, nãi từ nãi dự, lợi dụng tế tự – Cắt mũi, chặt chân (bị hình phạt), bị khốn vì áo đỏ (quyền quý). Nhưng rồi lại vui mừng, lại được tán dương. Có lợi trong việc tế tự. Ở vào cảnh khốn cùng của bậc quyền quý (xích phất), bị trừng phạt thảm khốc. Nhưng rồi lại có chuyển biến tốt, được giải oan, được tán thưởng. Điều đó nhờ vào việc giữ vững đạo đức và đức tin (tế tự).

Hào Thượng Lục: Khốn vu cát lý, vu niết ngữ, viết động hối, hữu hối, chinh cát – Bị khốn vì dây leo rậm rạp, ở trong tình thế nguy ngập, nói rằng: “Động thì hối, hối”. Nhưng nếu hành động (chinh) thì tốt. Bị vây bủa bởi những ràng buộc, hiểm nguy (cát lý, niết ngữ). Cảm thấy hễ động đậy là sai, là hối hận. Nhưng kỳ thực, ở thời điểm này, chỉ có hành động mạnh mẽ, quyết liệt (chinh) mới có thể thoát khốn, và đó là điều tốt.

5. Ứng dụng quẻ trong cuộc sống

Công danh, sự nghiệp: Công việc đình trệ, bế tắc, có thể bị sa thải, phá sản. Bị cấp trên hoặc đối thủ chèn ép, vây hãm. Cần giữ vững tinh thần, tìm kiếm sự giúp đỡ pháp lý.

Tài lộc: Tài chính kiệt quệ, nợ nần chồng chất, bị siết nợ. Có thể mất trắng. Cần cắt giảm tối đa, tìm cách xoay xở hoặc tuyên bố phá sản để có cơ hội lại.

Tình duyên, gia đạo: Mối quan hệ rơi vào ngõ cụt, ly hôn, gia đình tan nát. Cảm giác cô độc, không nơi nương tựa. Cần sự kiên nhẫn và can đảm để vượt qua.

Sức khỏe: Bệnh tật hiểm nghèo, sức khỏe suy kiệt, tinh thần trầm cảm nặng. Cần điều trị tích cực, có thể phải phẫu thuật lớn. Giữ tinh thần lạc quan là vô cùng quan trọng.

6. Lời khuyên

Quẻ Khốn dạy ta bài học về lòng kiên cường trong tuyệt cảnh. Khi rơi vào vòng vây của số phận, đừng gục ngã. Hãy nhớ rằng “cùng tắc biến, biến tắc thông” – cùng cực ắt sẽ biến đổi, biến đổi ắt sẽ thông suốt. Trong cảnh khốn, điều quý giá nhất là giữ được nhân cách và đức tin (“trí mệnh”, “lợi dụng tế tự”). Đôi khi, cách duy nhất để thoát ra là một hành động quyết liệt, dũng cảm (hào 6: chinh cát), dù nó có vẻ liều lĩnh. Hãy như cây cỏ, dù bị đá đè vẫn tìm khe hở để vươn lên. Hãy tin rằng, sau cơn mưa trời lại sáng, và chính trong lò lửa của khốn cùng, phẩm giá con người được tôi luyện trở nên sáng ngời.

Phần 3. Luận giải theo ngôn ngữ của các bậc tiên nho

1. Quẻ Trạch Thủy Khốn trong Kinh Dịch

Tổng quan Quẻ Phục Hy Trạch Thủy Khốn

Quẻ Trạch Thủy Khốn hay được gọi là Quẻ Khốn, là quẻ số 47 trong 64 Quẻ Kinh Dịch thuộc loại quẻ Bình Hòa.

Ngoại quái: ☱ Đoài (兌) – Trạch (澤) tức Đầm – Ngũ hành Kim.

Nội quái: ☵ Khảm (坎) – Thủy (水) tức Nước – Ngũ hành Thủy.

Thuộc nhóm tượng quái Đoài, Ngũ hành Kim.

Thoán từ

Lời kinh: 困, 亨貞, 大人吉, 无咎, 有言不信.

Dịch âm: Khốn, hanh trinh, đại nhân cát, vô cữu, hữu ngôn bất

Dịch nghĩa: Khốn: Hanh thông. Chính đính như bậc đại nhân (có đức) thì tốt, không lỗi. Dù nói gì cũng không bày tỏ được lòng mình (không ai nghe mình)

Như tài quẻ này, thì khốn mà có thể hanh vả được trinh chính là đạo người lớn ở thì khốn vậy, cho nên có thể tốt mà không lỗi. Người lớn ở thì khốn, chẳng những đạo của minh tự nhiên vẫn tốt, mà “vui trời yên mệnh” [2] , ấy là không mất sự tốt, huống chi theo thì khéo xử, lại còn lỗi gì? Có nói chẳng tin, là vì đương thời Khốn mà nói, thì còn ai tin?

Tượng quẻ

Lời kinh: 象⽈: 澤無⽔,困,君 ⼦以致命遂志. 

Dịch âm: Tượng viết: Trạch vô thủy, Khốn, quân tử dĩ tri mệnh toại chí. 

Dịch nghĩa: Lời Tượng nói rằng: Chằm không nước là quẻ Khốn, đấng quân tử coi đó mà đến mệnh thỏa chí. 

Giải nghĩa: Chầm không nước là tượng khốn thiếu. Đấng quân tử đương lúc khốn cùng, đã hết cách ngừa lo, mà không được khỏi, thì là mệnh đó, nên suy đến mệnh mình để thỏa chí mình, biết là mệnh phải thế ấy, thì sự cùng tắc vạ lo không thể lay động lòng mình, mình chỉ làm theo cái nghĩa vụ của mình mà thôi. Nếu biết mệnh, thì sẽ lo sợ về hiểm nạn, luống cuống về cùng ách, cái thao thủ của mình ắt mất, đâu được thỏa chí làm điều thiện? 

Các hào

1. Sơ Lục (Hào 1 âm): 

Lời kinh: 初 六: 臀困于株木, 入于幽谷, 三歲不覿.

Dịch âm: Đồn khốn vu châu mộc, nhập vu u cốc, tam tuế bất dịch.

Dịch nghĩa: Bàn toạ bị khốn ở gốc cây, lại sụp vào trong hang tối, ba năm không thấy ai.

Giảng nghĩa: Hào này ở đầu quẻ Khốn, âm nhu, mê muội; hào 3 , dương ứng với nó, bất trung bất chính không giúp gì được nó; như một người ngồi trên cây trụi trồi gốc ra (ý nói ở hào đầu, thấp nhất), rồi lại sụp vào hang tối (hào này âm, nhu mê muội) mà không thấy ai lại cứu (ai đây trỏ hào 4).

2. Cửu Nhị (Hào 2 dương):

Lời kinh: 九 二: 困于酒食, 朱紱方來.利用享祀, 征凶, 无咎.

Dịch âm: Khốn vu tửu thực, chu phất lai. Lợi dụng hưởng tự, chinh hung, vô Cửu.

Dịch nghĩa: Thiếu thốn đồ ăn uống. Áo phất đỏ sậm đưa tới. (Chỉ) nên cúng tổ tiên. Đánh dẹp đóng. Không lỗi.

Giảng nghĩa: Hào này dương cương, đắc trung, đáng lẽ tốt, nhưng ở thời Khốn thì cũng vẫn bị khốn vì ăn uống, do ơn vua lộc nước; được ở trên ứng hợp lại nhờ giúp (ở đây tượng trưng bằng việc đem cái “phất” đỏ, một bộ phận lễ phục để che đầu gối); nên đem lòng tinh thành để tế thần linh mà xử sự trong thời khốn này; nếu cứ tiến hành thì không gặp thời xấu; giữ đạo thì không có lỗi.

3. Lục Tam (Hào 3 âm):

Lời kinh: 六 三: 困于石, 據于蒺蔾, 入于其宮, 不見其妻, 凶.

Dịch âm: Khốn vu thạch, cứ vu tật lê, nhập vu kì cung, bất kiến kì thê, hung.

Dịch nghĩa: Như người bị khốn vì đá, mà lại dựa vào cây tật lê, vô nhà thì không thấy vợ, xấu.

Giảng nghĩa: Hào này bất trung ,bất chính, âm nhu ở vào thời khốn, ở trên cùng nội quái là Khảm, tức ở cảnh cực hiểm, tấn thoái đều không được nên ví với người bị đá dằn ở trên (tức hào 4) mà lại dựa vào một loại cây có gai (tật lê – tức hào 2) , vô nhà lại không thấy vợ (tức hào trên cùng cũng âm nhu, không giúp 3 được gì). Rất xấu. Theo Hệ từ truyện Chương v, Khổng tử thích nghĩa thêm như sau: “Không phải chỗ đáng bị khốn mà mình bị khốn thì danh ắt bị nhục, không phải chỗ đáng dựa mà mình dựa vào thì thân tất bị nguy; đã bị nhục lại bị nguy thì sắp chết tơi nơi rồi, còn thấy sao được vợ nữa?”

4. Cửu Tứ (Hào 4 dương):

Lời kinh: 九 四: 來徐徐, 困于金車, 吝, 有終.

Dịch âm: Lai từ từ, Khốn vu kim xa, lận, hữu chung.

Dịch nghĩa: (Bạn mình) lại chậm vì bị cỗ xe bằng kim khí chặn (khốn) có điều ân hận, nhưng được trọn vẹn về sau.

Giảng nghĩa: Hào này dương cương, nhưng bất trung, bất chính, ở vào Khốn, trong vào hào 1 (ứng với nó) tới giúp; nhưng 1 không tới mau được vì bị hào 2 chặn ở giữa (hào 2 này ví với cỗ xe bằng kim khí, có lẽ vì 2 dương cương, mà kim khí là chất cứng chăng cho nên có điều đáng ân hận, xấu hổ; nhưng cuối cùng vẫn liên hợp được với I vì hai bên đều dốc lòng ứng với nhau (4 là dương, 1 là âm)

5. Cửu Ngũ (Hào 5 dương):

Lời kinh: 九 五: 劓刖, 困于赤紱.乃徐有說, 利用祭祀.

Dịch âm: Tị nguyệt, khốn vu xích phất, Nãi từ hữu duyệt, lợi dụng tế tự.

Dịch nghĩa: Bị xẻo mũi, cắt chân, khốn vì cái “phất” đỏ; thủng thẳng sẽ vui, nên dùng lòng chí thành lúc cúng tế (mà xử vào thời Khốn).

Giảng nghĩa: Hào dương ở vị chí tôn, có tài đức, nhưng ở vào thời Khốn, người chung quanh mình và ở dưới mìmh đều bị khốn cả, lại thêm hào trên cùng là âm muốn dè ép quanh mình, hào 4 dương cương ở dưới tình làm hại mình, ngay đến hào 2 đã đem cái “phất” đỏ cho nó, nhờ nó giúp, nó cũng chỉ làm cho mình thêm khốn’ như vậy mình không khác gì kẻ bị thương ở mũi (xẻo mũi), ở chân (cắt chân); nhưng 5 và 2 cùng có đức cương trung thì rồi sẽ hợp với nhau, cứ chí thành thì sẽ hanh thông, vui.

6. Thượng Lục (Hào 6 âm):

Lời kinh: 上 六: 困于葛藟, 于臲卼.曰: 動悔, 有悔, 征吉.

Dịch âm: Khốn vu cát lũy, vu niết ngột. Viết động hối, hữu hối, chinh cát.

Dịch nghĩa: Bị khốn vì dây sắn dây leo, khập khễnh, gập ghềnh; tự hỏi rằng; hoạt động thì ân hận chăng? Biết suy nghĩ như vậy thì hành động sẽ tốt.

Giảng nghĩa: Hào này ở cuối thời Khốn, như người bị buộc chằng chịt trong đám dây sắn dây leo mà lại đi đứng trong chỗ khập khễnh, gập ghềnh; nhưng khốn tới cùng cực rồi thì sẽ thông, cho nên nếu thận trọng, biết ăn năn thì sẽ tốt.
So sánh ba quẻ Truân, Kiển, Khốn.

Quẻ Truân là đầu thời khó khăn, còn có thể hành động chút ít để cứu vãn thời thế được. Quẻ Kiển là giữa thời có khó khăn, nên chờ thời, không làm gì hết, hoặc có vì bổn phận mà làm thì cũng khó có kết quả.

Tới Quẻ Khốn, thời khó khăn lên tới tột điểm, 5 hào xấu (Khốn, lận) chỉ có hào cuối cùng mới tốt, đành phải chờ thời, giữ đức trung, chính, lòng chí thành mới qua được cơn khốn.

2. Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Trạch Thủy Khốn trong chiêm bốc, đoán quẻ

Triệu và điềm của quẻ Khốn

Quẻ Khốn có triệu Thoát Lãng Trừu Đê – Tình trạng bất ổn. Có bài thơ như sau:

Tiểu nhân thương lượng, bắt chim sẻ,

Đã đặt thang rồi, rút cọc đi.

Khăng khăng mồm nói, đi săn bắt,

Cản phá bên trong khó mà ngờ.

Dụng thần quẻ Khốn

Quẻ Khốn có đủ cả Lục Thân nên không có Phi Thần, Phục Thần.