Ý nghĩa quẻ 51 – Chấn Vi Lôi trong Kinh dịch

Luận Giải Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Số 51 – Quẻ Chấn Vi Lôi

Quẻ Phục Hy số 51 Chấn Vi Lôi
Quẻ Phục Hy số 51 Chấn Vi Lôi

Phần 1. Luận đoán quẻ Chấn trong cuộc sống

Ước muốn: Có thể giải quyết được các khó khăn và gặt hái thành công.

Hôn nhân: Những cuộc hôn nhân lần đầu thì không tốt đẹp. Những cuộc tái giá thì tốt lành.

Tình yêu: Tuy có thể có những sóng gió mãnh liệt, nhưng rốt cuộc thành công sẽ trở thành hiện thực.

Gia đạo: Gian khổ, khó khăn và cam go. Với ý chí đã quyết, có thể đạt được gia cảnh sung thịnh và hạnh phúc.

Con cái: Con cái sẽ gây cho bạn khổ sở và gian nan, nhưng tất cả đều có khả năng nỗ lực và mỗi đứa đều đạt được hạnh phúc và thành công. Thai nghén: con trai.

Vay vốn: Lúc đầu, có nhiều khó khăn cần phải khắc phục. Một khi đã khắc phục được chúng, thành công là của bạn.

Kinh doanh: Khi đã vượt quá được các trở ngại, lợi nhuận sẽ dồi dào.

Chứng khoán: Giá đang tăng.

Tuổi thọ: Khỏe mạnh, sống thọ.

Bệnh tật: Nghiêm trọng nhưng bình phục dần dần. Những rối loạn về thần kinh, chứng đậu dây thần kinh, các bệnh liên quan đến não, và rối loạn nội tạng cấp tính.

Chờ người: Sẽ đền sớm một cách bất ngờ.

Tìm người: Đang ở xa. Điều gì đó đang gây sự hãi, nhưng không thật sự nguy hiểm. Hãy tìm ở hướng Đông.

Vật bị mất: Hãy khẩn trương tìm, nếu không, sẽ bị mất hẳn. Hãy tìm ở hướng Đông.

Du lịch: Có thể gặp khó khăn giữa đường, nhưng chuyến đi vẫn suôn sẻ.

Kiện tụng và tranh chấp: Hãy xử trí bằng thái độ kiên quyết và mạnh mẽ, và bạn sẽ gặt hái được kết quả thuận lợi.

Việc làm: Có khó khăn nhưng có thể khắc phục được, có thể đạt mục tiêu.

Thi cử: Lo âu, nhưng điểm tốt.

Kinh doanh mới, thay đổi nghề nghiệp, chuyên môn hay chỗ làm: Hãy xúc tiến, nhưng đừng cưỡng cầu.

Thời tiết: Không ổn định, có thể có mưa rào và sấm chớp.

Phần 2. Luận giải theo ngôn ngữ hiện đại

1. Tên quẻ: Chấn Vi Lôi (Quẻ Phục Hy số 51)

2. Ý nghĩa tổng quan

Quẻ Chấn Vi Lôi là quẻ thuần Chấn, tượng trưng cho sự chấn động, sợ hãi, biến động và thức tỉnh. Hai tầng sấm sét (Chấn) chồng lên nhau tạo nên hình ảnh dồn dập, kinh hoàng nhưng cũng đầy năng lượng phục sinh. Quẻ này biểu thị những sự kiện bất ngờ, gây chấn động (tai nạn, tin dữ, biến cố lớn) khiến con người khiếp sợ, nhưng cũng chính từ sự sợ hãi ấy mà sinh ra sự thận trọng, tu tỉnh và hành động mạnh mẽ. Đây là quẻ của cú sốc, của sự cảnh tỉnh và sức mạnh tái sinh.

3. Hình ảnh và biểu tượng

Hình ảnh: Án lôi, chấn – Sấm sét nối tiếp nhau, Chấn động.

Biểu tượng: Chấn, hanh, chấn lai khích khích, tiếu ngôn ác ác, chấn kinh bách lý, bất tang tất xưởng – Quẻ Chấn hanh thông. Sấm đến làm người ta sợ hãi, sau lại cười nói (vì qua khỏi), Chấn động trăm dặm, không làm rơi cái muôi cất rượu (giữ được căn bản). Biểu tượng của sự kinh sợ tột độ rồi đến bình tĩnh, của việc giữ vững cốt lõi giữa biến động.

4. Luận giải từng hào

Hào Sơ Cửu: Chấn lai khích khích, hậu tiếu ngôn ác ác, cát – Sấm đến làm ta sợ hãi run rẩy, sau lại cười nói bình thản, tốt. Đối diện với biến cố bất ngờ, đầu tiên là hoảng loạn, sợ hãi. Nhưng khi vượt qua được, tâm trạng trở lại bình tĩnh, thậm chí cười nói. Đó là điềm tốt, chứng tỏ đã vượt qua nỗi sợ.

Hào Lục Nhị: Chấn lai lệ, ý thất tệ, ngật lăng cửu lăng, vật trục, thất nhật đắc – Sấm đến dữ dội, làm mất của cải. Leo lên chín tầng núi cao để trốn, đừng đuổi theo, bảy ngày sẽ được lại. Gặp tổn thất lớn (thất tệ) vì biến cố. Phản ứng là chạy trốn thật xa, thật cao (cửu lăng). Lời khuyên là đừng cố gắng đuổi theo, giành lại ngay (vật trục). Hãy kiên nhẫn, một thời gian sau (thất nhật) sẽ lấy lại được.

Hào Lục Tam: Chấn tô tô, chấn hành vô sinh – Run rẩy sợ hãi (vì sấm), nhưng cứ hành động thì không tổn hại. Dù trong lòng sợ hãi (tô tô), nhưng nếu vẫn dũng cảm hành động (chấn hành) thì sẽ không bị tổn thương (vô sinh). Đừng để nỗi sợ làm tê liệt.

Hào Cửu Tứ: Chấn toại nê – Sấm sét rơi xuống bùn. Năng lượng chấn động (sấm) bị triệt tiêu, vô hiệu hóa bởi môi trường ẩm ướt, nặng nề (nê). Hành động mạnh gặp phải trở lực lớn, không có tác dụng.

Hào Lục Ngũ: Chấn vãng lai lệ, ý vô tang, hữu sự – Sấm đi sấm lại dữ dội, nhưng của cải không mất, chỉ có việc (lo lắng). Biến động liên tiếp, dồn dập (vãng lai lệ). Tuy nhiên, căn bản (tài sản, địa vị) không bị tổn hại (ý vô tang), chỉ là có nhiều việc phải lo toan, giải quyết (hữu sự).

Hào Thượng Lục: Chấn tác tác, thị cụ thị bắc, chinh hung, chấn bất vu kỳ cung, vu kỳ lân, vô cửu, hôn cấu hữu ngôn – Run rẩy sợ sệt, nhìn trước nhìn sau, tiến lên thì xấu. Sấm không đánh vào nhà mình, mà đánh vào nhà hàng xóm, không lỗi. Việc hôn nhân có lời đồn (có điều tiếng). Nỗi sợ đến mức hoang mang, do dự (thị cụ thị bắc). Hành động lúc này là nguy. May mắn thay, tai họa (chấn) không trực tiếp đánh vào mình, mà vào người khác (lân). Bản thân không có lỗi, nhưng có thể bị liên lụy, dính vào lời đồn đại (hôn cấu hữu ngôn).

5. Ứng dụng quẻ trong cuộc sống

Công danh, sự nghiệp: Công ty có biến động lớn (sáp nhập, khủng hoảng), bị khiển trách, dự án gặp sự cố. Cần bình tĩnh đối phó, đừng hoảng loạn. Có thể có thay đổi nhân sự bất ngờ.

Tài lộc: Thị trường chứng khoán biến động dữ dội, tài sản bốc hơi. Có thể mất tiền bất ngờ. Không nên đầu cơ, nên giữ tiền mặt. Kiên nhẫn chờ thị trường ổn định.

Tình duyên, gia đạo: Cãi vã, xung đột dữ dội, thậm chí đổ vỡ. Có tin sốc về người thân. Cần giữ bình tĩnh để giải quyết, tránh quyết định nóng vội.

Sức khỏe: Bị chấn động tinh thần mạnh (sốc), hoặc bệnh tật phát triển đột ngột (tai biến, đau tim). Cần được cấp cứu, trấn an tinh thần kịp thời.

6. Lời khuyên

Quẻ Chấn dạy ta cách đối diện với nỗi sợ hãi và biến cố bất ngờ. Sấm sét trên trời tuy đáng sợ, nhưng cũng thanh lọc không khí và đánh thức vạn vật. Khi “chấn lai khích khích”, hãy cho phép bản thân được sợ hãi, nhưng rồi phải vượt qua nó để “hậu tiếu ngôn ác ác”. Đừng để nỗi sợ làm tê liệt hành động (hào 3). Đôi khi, tai ương chỉ đi ngang qua nhà bạn (hào 6). Hãy giữ vững căn cốt, đạo đức nền tảng (“bất tang tất xưởng” – không đánh rơi muôi rượu) thì dù trời có giáng sấm sét, bạn vẫn đứng vững. Hãy nhớ: sợ hãi là bản năng, can đảm không phải là không biết sợ, mà là hành động dù đang sợ hãi.

Phần 3. Luận giải theo ngôn ngữ của các bậc tiên nho

1. Quẻ Chấn Vi Lôi trong Kinh Dịch

Tổng quan Quẻ Phục Hy Chấn Vi Lôi 

Quẻ Lôi Vi Chấn (hoặc Thuần Chấn), hay được gọi là Quẻ Chấn, là quẻ số 51 trong 64 Quẻ Kinh Dịch thuộc loại quẻ Bình Hòa.

Ngoại quái: ☳ Chấn (震) – Lôi (雷) tức Sấm – Ngũ hành Mộc.

Nội quái: ☳ Chấn (震) – Lôi (雷) tức Sấm – Ngũ hành Mộc.

Thuộc nhóm tượng quái Chấn, Ngũ hành Mộc.

Thoán từ

Lời kinh:  震亨, 震來虢虢, 笑言啞啞, 震驚百里, 不喪匕鬯.

Dịch âm: Chấn hanh, Chấn lai khích khích, tiếu ngôn ách ách, chấn kinh bách lý, bất táng chuỷ Xưởng.

Dịch nghĩa: Quẻ Chấn hanh, sợ lại ngơm ngớp, cười nói khanh khách, nhức kinh trăm dậm, chẳng mất môi và rượu Xưởng.

Giải nghĩa: Chấn nghĩa là động, một khí Dương mới sinh dưới hai khí Âm, nhức mà tự động; Tượng nó là Sấm, loại nó là con lớn, nhức thì có cách hanh thông. ‚“Sợ lại”nghĩa là lúc sự nhức sợ kéo lại. “Ngơm ngớp là đáng khiếp sợ ngó đi ngó lại”. “Nhức sợ trăm dặm” là nói về sấm. “Môi” là cái để múc đồ múc trong vạc, “Xưởng” là thứ rượu dùng rượu gạo nếp trộn hòa lộn với nghệ, để đổ lộn xuống đất mà cầu thần xuống. “Chẳng mất môi và rượu Xưởng” là lấy con lớn mà nói. Lời Chiêm quẻ này là biết lo sợ thì đem được phúc đến mà chẳng bị mất cái sở chủ hệ trọng của mình. 

Tượng quẻ

Lời kinh: 象 ⽈: Tấn 雷, 震, 君 ⼦ 以 恐 懼 修 省. 

Dịch âm: Tượng viết: Tấn lôi, Chấn, quân tử dĩ khủng cụ tu tĩnh. 

Dịch nghĩa: Lời Tượng nói rằng: Liền sấm là quẻ Chấn, đấng quân tử coi đó mà sợ hãi sửa xét. 

Giải nghĩa: “Tấn” là lần kép, trên dưới đều là thể Chấn, cho nên liền sấm. Sấm động trùng điệp thì oai càng thịnh. Đấng quân tử soi sấm liền dữ dội đó mà sợ hãi, tự mình sửa sang, tự mình ngẫm xét. Đấng quân tử sự oai của trời thì sửa chính mình mình, nghĩa xét lỗi mình mà đổi nó đi. Chẳng những trong lúc sấm động, hễ gặp phải việc sợ hãi đều nên như thế.

Các hào

1. Sơ Cửu (Hào 1 dương): 

Lời kinh: 初 九: 震來虩虩, 後笑言啞啞, 吉.

Dịch âm: Chấn lai hích hích, hậu tiếu ngôn ách ách, cát.

Dịch nghĩa: Đang tế tự thì sấm động. Sấm nổ ầm ầm. Cười nói há há. Sấm làm kinh sợ cả trăm dặm. Chẳng để rơi muỗng rượu lễ.

Giảng nghĩa: Hào này ở đầu thời sấm động. Hào từ y hệt Thoán từ, chỉ thêm hai chữ “hậu” (sau) và “cát” tốt.

2. Lục Nhị (Hào 2 âm):

Lời kinh: 六 二: 震來, 厲.億喪貝, 躋于九陵, 勿逐七日得.

Dịch âm: Chấn lai, lệ; ức táng bối, tê vu cửu lăng, vật trục, thất nhật đắc.

Dịch nghĩa: Sấm nổ, có cơ nguy, e mất của chẳng (sợ hãi) chạy lên chín từng gò để tránh; dù mất của những đừng đuổi theo, bảy ngày sẽ được.

Giảng nghĩa: Hào này âm nhu lại cưỡi lên hào 1 dương cương, nhút nhát, sợ 1 áp bức, e có cơ nguy, lại ngại mất của, nên phải tránh xa (lên chín tầng gò); nhưng nó vốn trung, chính, khéo xử nên đừng quá lo mà khiếp sợ, cứ bình tĩnh, dù có mất tiền, sau cũng lấy lại được.

3. Lục Tam (Hào 3 âm):

Lời kinh: 六 三: 震蘇蘇, 震行无眚.

Dịch âm: Chấn tô tô, chấn hành vô sảnh.

Dịch nghĩa: Sấm động mà sinh thác loạn; cứ tránh đi, bỏ điều bất chính thì không bị hoạ.

Giảng nghĩa: Hào âm, ở vị dương, là hạng người bất chính, nên lo sợ tới thác loạn; nếu trở về đường chính thì không bị tai hoạ.

4. Cửu Tứ (Hào 4 dương):

Lời kinh: 九 四: 震, 遂泥.

Dịch âm: Chấn, toại nê.

Dịch nghĩa: Sấm động, bi say mê chìm đắm.

Giảng nghĩa: Hào dương này, bất trung, bất chính, mà lại bị hãm vào giữa bốn hào âm, hai ở trên, hai ở dưới, nên gặp việc chấn động, lo sợ, không tự thoát được, chỉ chìm đắm thôi.

5. Lục Ngũ (Hào 5 âm):

Lời kinh: 六 五: 震往來, 厲.意无喪, 有事.

Dịch âm: Chấn vãng lai, lệ; ức vô táng, hữu sự.

Dịch nghĩa: Sấm tới hay lui cũng đều thấy nguy; cứ lo (ức) sao cho khỏi mất đức trung (vô táng), thì làm được công việc.

Giảng nghĩa: Hào âm, hay lo sợ, chỉ thấy toàn là nguy, nhưng ở vị 5, có đức trung; cứ giữ đức đó thì sấm tới hay lui (vãng lai cũng có thể hiểu là hào 5 này tới hay lui) cũng không sao mà còn làm được công việc nữa.

6. Thượng Lục (Hào 6 âm):

Lời kinh: 上 六: 震索索, 視矍矍, 征凶.震不于其躬, 于其鄰, 无咎, 婚媾有言.

Dịch âm: Chấn tác tác, thị quắc quắc, chinh hung. Chấn bất vu kì cung, vu kì lân, vô Cửu, hôn cấu hữu ngôn.

Dịch nghĩa: Sấm động mà kinh hoảng, mắt nhớn nhác, nếu đi tới (hành động) thì xấu. Nếu đề phòng trước từ khi sự chấn động chưa tới bản thân mình, mới tới hàng xóm, thì không lầm lỗi, mặc dầu bà con có kẻ chê cười mình.

Giảng nghĩa: Hào này âm nhu, gặp hoàn cảnh cực kỳ chấn động (vì ở trên cùng quẻ Chấn) cho nên có vẻ quá sợ sệt, mà không có tài nên không nên hành động gì cả, chỉ nên đề phòng trước thôi. Bốn chữ: “hôn cấu hữu ngôn” Chu Hi hiểu là nói về việc gả cưới, không khỏi có lời ngờ vực; các sách khác đều hiểu là bị bà con (hôn cấu) chê cười. Tại sao lại chê cười? Tại hào này nhút nhát: Tại không dám hành động chăng?

2. Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Chấn Vi Lôi trong chiêm bốc, đoán quẻ

Triệu và điềm của quẻ Chấn

Quẻ Chấn có triệu Kim Chung Dạ Tràng – Mọi sự thành công. Có bài thơ như sau:

Chuông vàng đêm đánh, thật ngân vang,

Vạn thế đổi thay, việc tất thành.

Mưu sự cầu tài, không tốn sức,

Giao dịch xuất hành, đại thành công.

Dụng thần quẻ Chấn

Quẻ Chấn có đủ Lục Thân, lẽ đương nhiên không có Phục Thần và Phi Thần.