Luận Giải Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Số 52 – Quẻ Cấn Vi Sơn

Phần 1. Luận đoán quẻ Cấn trong cuộc sống
Ước muốn: Không thành công. Phải chờ đợi.
Hôn nhân: Một cuộc hôn nhân không thích hợp, không tốt đẹp. Thêm nữa, khó có thể thành công.
Tình yêu: Đơn phương, không thành công.
Gia đạo: Gia cảnh đang bể tắc. Gia đình gặp nhiều khó khăn, khổn khổ. Chỉ có sự làm việc chăm chỉ, nhẫn nại mới có thể khắc phục được các khó khăn và mang lại hạnh phúc cũng như thịnh vượng.
Con cái: Nhân cách mạnh mẽ, tinh thần tự lập. Chúng giống cha hơn giống mẹ. Thai nghén: con trai. Có thể sinh khó.
Vay vốn: Sẽ không thành công. Phải chờ đợi.
Kinh doanh: Đình trệ, không có những lời hay lỗ quá lớn nào, mà chỉ có nhiều điều thật nhức đầu.
Chứng khoán: Thay đổi rất ít.
Tuổi thọ: Sức khỏe đầy trục trặc, có thể sống yểu. Phải hết sức điều độ.
Bệnh tật: Kéo dài. Bệnh lao, xơ cứng động mạch, và các bệnh về não.
Chờ người: Sẽ không đến.
Tìm người: Người này có thể đang trở về chốn cũ. Hãy tìm ở nơi cao phía Đông Bắc.
Vật bị mất: Không dễ gì tìm được. Hãy tìm ở hướng Đông Bắc.
Du lịch: Không thuận lợi. Hãy chờ và tìm hiểu về sau.
Kiện tụng và tranh chấp: Mất thời gian và không thuận lợi. Tốt nhất hãy tìm cách hòa giải.
Việc làm: Tốn nhiều thời giờ mà chẳng mang lại được kết quả nào. Phải chờ.
Thi cử: Điểm trung bình hoặc điểm thấp.
Kinh doanh mới, thay đổi nghề nghiệp, chuyên môn hay chỗ làm: Không thuận lợi. Tốt nhất hãy giữ nguyên tình trạng hiện tại.
Thời tiết: Nhiều mây.
Phần 2. Luận giải theo ngôn ngữ hiện đại
1. Tên quẻ: Cấn Vi Sơn
2. Ý nghĩa tổng quan
Quẻ Cấn Vi Sơn là quẻ thuần Cấn, tượng trưng cho sự dừng lại, tĩnh tại và ẩn cư. Hai tầng núi (Cấn) chồng lên nhau tạo nên hình ảnh vững chãi, bất động. Quẻ này biểu thị thời điểm cần phải dừng chân, ngưng mọi hành động, quay vào bên trong để suy ngẫm, tu dưỡng và tích lũy năng lượng. “Cấn kỳ thân” – dừng lại ở thân mình, là triết lý trọng tâm: dừng những ham muốn bên ngoài, tập trung vào nội tâm. Đây là quẻ của sự tĩnh tâm, nhẫn nại và vững vàng như núi.
3. Hình ảnh và biểu tượng
Hình ảnh: Kiêm sơn, Cấn – Núi chồng núi.
Biểu tượng: Cấn, chỉ dã – Cấn là dừng lại. Và Thời chỉ tắc chỉ, thời hành tắc hành, động tĩnh bất thất kỳ thì, kỳ đạo quang minh – Đến lúc dừng thì dừng, đến lúc hành động thì hành động, động tĩnh không lỡ thời cơ, đạo ấy mới sáng suốt. Biểu tượng của nghệ thuật dừng lại đúng lúc, của sự bất động có ý thức.
4. Luận giải từng hào
Hào Sơ Lục: Cấn kỳ chỉ, vô cửu, lợi vĩnh trinh. Dừng lại ở ngón chân (bước đầu), không có lỗi, có lợi cho việc giữ vững sự chính bền lâu dài. Ngay từ ý nghĩ đầu tiên, hành động đầu tiên đã biết dừng lại, ngăn chặn điều xấu từ khi chưa manh nha. Đó là điều rất tốt, là nền tảng cho sự bền vững.
Hào Lục Nhị: Cấn kỳ phì, bất cứu kỳ tùy, kỳ tâm bất khoái. Dừng lại ở bắp chân, không cứu được người đi theo, trong lòng không vui. Dừng lại ở vị trí không then chốt (phì), khiến không thể giúp đỡ được người khác (bất cứu kỳ tùy). Bản thân cảm thấy bứt rứt, không thoải mái. Sự dừng lại này chưa đúng chỗ, chưa hiệu quả.
Hào Cửu Tam: Cấn kỳ hạn, liệt kỳ doân, lệ sâm tâm – Dừng lại ở eo (hạn), gây rạn nứt các khớp xương (liệt kỳ lân), nguy hiểm, làm tim gan nóng như lửa. Dừng lại một cách gượng ép, cứng nhắc ở vị trí trọng yếu (hạn – eo, nơi nối trên dưới). Điều này gây ra tổn thương, đứt gãy trong các mối quan hệ (liệt kỳ lân), dẫn đến tâm trạng nóng nảy, đau khổ (lệ sâm tâm). Rất nguy.
Hào Lục Tứ: Cấn kỳ thân, vô cửu – Dừng lại ở thân mình, không có lỗi. Đây là cốt lõi của quẻ Cấn: biết dừng những ham muốn, hành động của bản thân, quay vào tu dưỡng nội tâm. Đó là điều hoàn toàn đúng đắn.
Hào Lục Ngũ: Cấn kỳ phụ, ngôn hữu tự, hối vong – Dừng lại ở gáy (phụ), lời nói có trật tự, hối hận tiêu tan. Dừng lại ở vị trí cao (gáy, gần não), tượng trưng cho việc kiểm soát được lời nói và tư tưởng. Lời nói trở nên có phép tắc, rõ ràng (hữu tự). Nhờ đó, mọi hối tiếc biến mất.
Hào Thượng Cửu: Đôn cấn, cát – Thành khẩn, chất phác mà dừng lại, tốt. Đạt đến cảnh giới cao nhất của sự dừng: sự dừng lại một cách tự nhiên, thuần phác, xuất phát từ bản tính chân thật (đôn). Đó là điều rất tốt lành.
5. Ứng dụng quẻ trong cuộc sống
Công danh, sự nghiệp: Nên tạm dừng các kế hoạch mở rộng, tập trung củng cố nội bộ, đào tạo nhân sự. “Dừng lại” để quan sát thị trường, nghiên cứu chiến lược. Nghỉ ngơi để lấy lại sức.
Tài lộc: Ngưng các khoản đầu tư mới, chi tiêu không cần thiết. Tập trung vào việc tiết kiệm, quản lý nợ. Giữ vững những gì đang có.
Tình duyên, gia đạo: Cần dừng những cuộc cãi vã, tạm lặng để suy nghĩ. Dành thời gian cho bản thân, tĩnh tâm nhìn nhận lại mối quan hệ. Sự im lặng đôi khi cần thiết.
Sức khỏe: Cần nghỉ ngơi tuyệt đối, tĩnh dưỡng. Ngưng các hoạt động thể thao mạnh, lao động quá sức. Thiền định, yoga rất tốt. Phòng bệnh hơn chữa bệnh.
6. Lời khuyên
Quẻ Cấn dạy ta bài học quý giá về sự dừng lại. Trong một thế giới luôn hối hả, biết dừng lại là một trí tuệ lớn. Hãy như ngọn núi, bất động giữa trời đất biến ảo. Dừng lại không phải là thụ động, mà là để quan sát, để tích lũy, để không hành động sai lầm. Hãy “cấn kỳ thân” – dừng những ham muốn giác quan, dừng những hành động bộc phát. Hãy dừng lại đúng lúc (thời chỉ tắc chỉ), đúng chỗ (từ ngón chân đến gáy). Đạt đến cảnh giới “đôn cấn” – sự tĩnh tại tự nhiên, thì mọi sự đều cát tường. Hãy nhớ: “Đại trí nhược ngu” – người khôn ngoan thực sự đôi khi trông như đang dừng lại, không làm gì cả.
Phần 3. Luận giải theo ngôn ngữ của các bậc tiên nho
1. Quẻ Cấn Vi Sơn trong Kinh Dịch
Tổng quan Quẻ Phục Hy Cấn Vi Sơn
Quẻ Cấn Vi Sơn (hoặc Thuần Cấn), hay được gọi là Quẻ Cấn, là quẻ số 52 trong 64 Quẻ Kinh Dịch thuộc loại quẻ Bình Hòa.
Ngoại quái: ☶ Cấn (艮) – Sơn (山) tức Núi – Ngũ hành Thổ.
Nội quái: ☶ Cấn (艮) – Sơn (山) tức Núi – Ngũ hành Thổ.
Thuộc nhóm tượng quái Cấn, Ngũ hành Thổ.
Thoán từ
Lời kinh: 艮其背, 不獲其身, 行其庭, 不見其人, 无咎.
Dịch âm: Cấn kỳ bôi, bất hoạch kỳ thân, hành kỳ đình, bất kiến kỳ nhân, vô cữu.
Dịch nghĩa: Đậu thửa lưng, chẳng được thửa mình, đi thửa sân, chẳng thấy thửa người, không lỗi.
Giải nghĩa: Cấn là đậu. Một Dương đậu trên hai Âm, Dương tự dưới lên, đến chỗ nhất thì đậu. Tượng nó là núi, lấy về dáng “đất Khôn cao lên”, cũng là ý “đậu chỗ cùng tột mà không tiến nữa”. Lời Chiêm của nó thì là “ắt phải đậu ở đằng lưng mà không có mình, đi ở sân mà không thấy người, mới là không lỗi”. Bởi vì thân thể là vật hay động, chỉ có cái lưng là đậu, đậu ở lưng thì là đậu chỗ đáng đậu, đậu chỗ đáng đậu thì sẽ không theo thân thể mà động, ấy là không có mình nữa. Như thế thì tuy đi ở sân thềm là chỗ có người mà cũng không trông thấy người. Bởi vì “đậu thửa lưng mà chẳng thấy được mình” là đậu mà đậu. “Đi thửa sâu mà chẳng thấy thửa người” là đi mà đậu. Động tĩnh đều đậu vào nơi chốn mà lưng thì chủ về tĩnh, vì vậy mới được không lỗi.
Tượng quẻ
Lời kinh: 象 ⽈: 兼 ⼭ ⾉, 君 ⼦ 以 思 不 出 其 位.
Dịch âm: Tượng viết: Kiêm sơn Cấn, quân tử dĩ tư bất xuất kỳ vị.
Dịch nghĩa: Lời Tượng nói rằng: Gồm núi là quẻ Cấn. Đấng quân tử coi đó mà nghĩ chẳng việc thửa ngôi.
Giải nghĩa: Trên dưới đều là núi, cho nên nói là gồm núi. Cái này nhập với cái kia là “gồm” tức là trùng điệp vậy. Trùng điệp là tượng của Cấn. Đấng quân tử coi tượng Cấn đậu mà nghĩ chỗ đậu không vượt ra ngoài ngôi mình. Ngôi tức là phận mình ở . Muôn việc đều có nơi chốn, hễ đúng nơi chốn thì là đậu yên. Hoặc thái quá, hoặc bất cập, đều là vượt ra ngoài ngôi.
Các hào
1. Sơ Lục (Hào 1 âm):
Lời kinh: 初 六: 艮其趾, 无咎, 利永貞.
Dịch âm: Cấn kỳ chỉ, vô Cửu, lợi vĩnh trinh.
Dịch nghĩa: Biết ngừng ở ngón chân thì không có lỗi, giữ bền được chính đạo thì có lợi.
Giảng nghĩa: Hào âm này ở dưới cùng quẻ Cấn ví như ngón chân; lúc mới bắt đầu động mà biết cẩn thận, ngưng lại thì không có lỗi. Sở dĩ khuyên như vậy vì hào 1 bất chính (âm ở vị dương. Mà phải kiên nhẫn giữ chính đạo thì mới có lợi.
2. Lục Nhị (Hào 2 âm):
Lời kinh: 六 二: 艮其腓, 不拯其隨, 其心不快.
Dịch âm: Cấn kỳ phì, bất chứng kỳ tùy, kỳ tâm bất khoái.
Dịch nghĩa: Ngăn ở bắp chân, không cứu được bắp vế mà mình phải theo nó, lòng không vui.
Giảng nghĩa: Hào này ở trên hào 1, như bắp chân; nó đắc trung đắc chính, biết lúc nào nên ngưng, nhưng nó tùy thuộc hào 3 ở trên nó, như bắp vế ở trên bắp chân (vế cử động thì bắp chân cử động theo), mà 3 thì lầm lỗi không sửa được, phải theo một kẻ lầm lỗi thì lòng không vui.
3. Cửu Tam (Hào 3 dương):
Lời kinh: 九 三: 艮其限, 列其夤, 厲薰心.
Dịch âm: Cấn kỳ hạn, liệt kỳ di (cũng đọc là dần), lệ huân tâm.
Dịch nghĩa: Ngăn ở lưng quần (ngang thận), như bị đứt ở giữa xương sống, nguy khốn, lo như cháy cả ruột.
Giảng nghĩa: Hào này ở trên cùng nội quái, như ở chỗ lưng quần, nơi phân cách trên và dưới. Nó là dương cương, bất trung, tiến lên thì người trên không nghe, lui xuống cũng không được, như bị đứt ở giữa xương sống, rất nguy khốn.
4. Lục Tứ (Hào 4 âm):
Lời kinh: 六 四: 艮其身, 无咎.
Dịch âm: Cấn kỳ thân, vô Cửu.
Dịch nghĩa: Ngăn phần thân mình, không có lỗi.
Giảng nghĩa: Hào này lên đến giữa thân mình, nó đắc chính (âm ở vị âm) biết lúc nên ngừng thì ngừng, tuy không làm được việc gì, nhưng không có lỗi.
5. Lục Ngũ (Hào 5 âm):
Lời kinh: 六 五: 艮其輔, 言有序, 悔亡.
Dịch âm: Cấn kỳ phụ, ngôn hữu tự, hối vong.
Dịch nghĩa: Ngăn cái mép lại (có sách dịch là xương hàm), ăn nói có thứ tự, hối hận mất đi.
Giảng nghĩa: Hào này lên tới mép, đắc trung, biết thận trọng lời nói, lúc nào không đáng nói thì không nói, nên không có gì hối hận.
6. Thượng Cửu (Hào 6 dương):
Lời kinh: 上 九: 敦艮, 吉.
Dịch âm: Đôn cấn, cát.
Dịch nghĩa: Đôn hậu về đạo biết ngưng phải lúc, tốt.
Giảng nghĩa: Hào này ở trên cùng, làm chủ quẻ dương cương, có tính đôn hậu, biết lúc nào nên ngừng thì ngừng tốt.
2. Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Cấn Vi Sơn trong chiêm bốc, đoán quẻ
Triệu và điềm của quẻ Cấn
Quẻ Cấn có triệu Nhân Đoản Táo Cao – Mọi việc bất thuận. Có bài thơ như sau:
Thân lùn với táo, lấy được sao,
Giao dịch, kinh doanh, thật khó khăn.
Cầu tài, cầu lộc, đều không đến,
Hôn nhân, góp vốn cũng chẳng thành.
Dụng thần quẻ Cấn
Quẻ Cấn có đủ Lục Thân, lẽ đương nhiên không có Phục Thần và Phi Thần.
