Luận Giải Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Số 56 – Quẻ Hỏa Sơn Lữ

Phần 1. Luận đoán quẻ Lữ trong cuộc sống
Ước muốn: Có thể thực hiện được những ước muốn nhỏ, nhưng chẳng hy vọng gì đối với những ước muốn lớn.
Hôn nhân: Tình cảm của hai bên không hoàn toàn tâm đầu ý hợp với nhau. Nhiều vấn đề sẽ làm cho cuộc hôn nhân không thành công. Thậm chí, có lấy nhau rồi đi chăng nữa thì hai người cũng sẽ gặp phải nhiều khó khăn và gian nan. Một cuộc hôn nhân không ổn định, không phù hợp.
Tình yêu: Chủ ý của bên kia thiếu nhất quán. Điều này sẽ dẫn đến thất bại.
Gia đạo: Gia đạo lạnh nhạt. Gia nghiệp bất ổn và không có triển vọng.
Con cái: Tình cảm giữa cha mẹ và con cái thiếu hòa hợp. Cô độc, bất hạnh, và xui xẻo. Thai nghén: con gái.
Vay vốn: Chỉ có thể vay được một khoản nhỏ.
Kinh doanh: Không có lợi nhuận cao mà cũng chăng bị lỗ lã gì nhiều. Công việc làm ăn chỉ bình bình.
Chứng khoán: Sẽ tăng về sau.
Tuổi thọ: Yếu ớt và hay bệnh tật. Có thể bị yểu mệnh.
Bệnh tật: Bệnh tình không chắc chắn, dễ biến chuyển, không ổn định. Tốn thời gian và kéo dài. Mạng sống gặp nguy hiểm. Những bệnh ảnh hưởng đến các cơ quan hô hấp và tiêu hóa.
Chờ người: Có thế đến sau nhiều ngày. Tuy nhiên, xác suất người này không đến là rất cao.
Tìm người: Đang ở xa và đang ở một nơi nào đó không chắc chắn. Không dễ gì biết được những nơi thường lui tới của người này.
Vật bị mất: Đã rơi vào tay người khác và không thể thu hồi lại được.
Du lịch: Tuy khó khăn và trở ngại sẽ gây cản trở cho chuyển đi, nhưng sự thật không may là bạn phải thực hiện chuyến đi này.
Kiện tụng và tranh chấp: Tốn thời gian và vô hy vọng. Tốt nhất là hãy từ bỏ.
Việc làm: Không hy vọng, ít nhất là trong lúc này.
Thi cử: Điểm thấp.
Kinh doanh mới, thay đổi nghề nghiệp, chuyên môn hay chỗ làm: Bất lợi. Tốt nhất là hãy chờ đợi.
Thời tiết: Thời tiết xấu, không ổn định.
Phần 2. Luận giải theo ngôn ngữ hiện đại
1. Tên quẻ: Hỏa Sơn Lữ
2. Ý nghĩa tổng quan
Quẻ Hỏa Sơn Lữ tượng trưng cho sự lữ hành, tha hương và tạm bợ. Trên là Lửa (Hỏa) – không ổn định, luôn chuyển động; dưới là Núi (Sơn) – tĩnh lặng, cố định. Hình ảnh ngọn lửa trên núi, lửa cứ cháy lan từ chỗ này sang chỗ khác, không có chỗ cố định. Quẻ này biểu thị cảnh sống xa nhà, đi công tác, du lịch, lưu lạc, hoặc một giai đoạn tạm thời, không ổn định trong cuộc đời. Nó nhấn mạnh sự cần thiết của việc thích nghi, cẩn trọng và giữ gìn phẩm giá khi ở nơi đất khách.
3. Hình ảnh và biểu tượng
Hình ảnh: Sơn thượng hữu hỏa – Trên núi có lửa. Lửa cháy trên núi, không yên.
Biểu tượng: Lữ, tiểu hanh, lữ trinh cát – Quẻ Lữ, hanh thông nhỏ. Giữ chính bền nơi đất khách thì tốt. Và Thời chi nghĩa đại hĩ tai – Ý nghĩa của thời (cơ, hoàn cảnh) thật lớn thay! Biểu tượng của thân phận lữ khách, của sự tạm bợ và tầm quan trọng của việc ứng xử đúng mực theo thời thế.
4. Luận giải từng hào
Hào Sơ Lục: Lữ thường thường, tư kỳ sở thủ, tư – Kẻ lữ hành tầm thường, nhỏ nhen (thường thường), lo chuyện nhỏ nhặt (sở thủ) nên gặp tai họa. Thái độ của kẻ lữ hành tầm thường: chỉ biết bo bo giữ của, tính toán thiệt hơn vặt vãnh. Điều đó sẽ dẫn đến tai họa cho chính mình.
Hào Lục Nhị: Lữ tức thứ, hoài kỳ tư, đắc đồng bộc, trinh – Kẻ lữ hành tạm trú (tức thứ), ôm giữ của cải (hoài kỳ tư), được tôi tớ trung thành (đồng bộc), nên giữ chính bền. Ở nơi đất khách, cần có chỗ tạm trú an toàn, quản lý tốt tài sản, và quan trọng là có được người trung thành giúp đỡ (đồng bộc). Giữ được như vậy thì tốt.
Hào Cửu Tam: Lữ phản kỳ thứ, thất kỳ đồng bộc, trinh lệ – Kẻ lữ hành đốt nhà trọ (phản kỳ thứ), mất tôi tớ (thất kỳ đồng bộc), dù chính bền cũng nguy. Hành động ngu xuẩn, phá hoại chỗ ở tạm của mình (phản kỳ thứ), khiến mất đi sự hỗ trợ (đồng bộc). Dù có ý tốt cũng rất nguy hiểm. Không biết quý trọng những gì đang có nơi đất khách.
Hào Cửu Tứ: Lữ vu xử, đắc kỳ tư phất, ngã tâm bất khoái – Kẻ lữ hành ở nơi được cấp phát (xử), được của cải và cái búa (tư phất), nhưng lòng ta không vui. Dù ở nơi được cung cấp đầy đủ, có cả công cụ, của cải (tư phất), nhưng vẫn cảm thấy bất an, không vui (bất khoái) vì thân phận tha hương.
Hào Lục Ngũ: Xạ trĩ, nhất thỉ vong, chung dĩ dự mệnh – Bắn con chim trĩ, một mũi tên mà nó chết, cuối cùng nhờ đó mà được ban mệnh (vinh dự). Trong cảnh lữ hành, nhờ có tài năng xuất chúng (như xạ thủ giỏi) lập được công (xạ trĩ), mà cuối cùng được công nhận, ban thưởng (dự mệnh). Tài năng là vốn quý nhất của kẻ lữ khách.
Hào Thượng Cửu: Điểu phần kỳ sào, lữ nhân tiên tiếu hậu đào thao, thất ngưu vu dị, hung – Chim đốt tổ của nó (hành động tự hại), kẻ lữ hành trước cười sau khóc (đào thao). Mất con bò ở chỗ dễ dàng (vu dị), xấu. Hành động ngu xuẩn, phá hoại chỗ nương thân của chính mình (điểu phần kỳ sào). Kết quả là từ vui sướng (tiếu) rơi vào cảnh khóc than (đào thao). Để mất những thứ quan trọng một cách dễ dàng (thất ngưu vu dị). Rất hung hiểm. Bài học về sự thiếu cẩn trọng và ngu xuẩn của kẻ lữ hành.
5. Ứng dụng quẻ trong cuộc sống
Công danh, sự nghiệp: Công tác dài ngày, làm việc ở nước ngoài, hoặc công việc phải di chuyển liên tục (sales, vận tải). Cần thận trọng trong giao tiếp, giữ chữ tín. Có thể gặp cơ hội phát triển ở nơi xa.
Tài lộc: Kiếm tiền từ những dự án, công việc xa nhà. Quản lý tài chính cẩn thận khi đi du lịch, tránh bị mất cắp. Không nên đầu tư lớn ở nơi đất khách nếu chưa hiểu rõ.
Tình duyên, gia đạo: Có thể có tình yêu xa, hoặc gặp gỡ người bạn đời ở nơi xa lạ. Cuộc sống gia đình có thể không ổn định do công việc di chuyển. Cần sự thấu hiểu và tin tưởng.
Sức khỏe: Dễ mắc bệnh do thay đổi môi trường sống, khí hậu (say nắng, cảm lạnh, rối loạn tiêu hóa). Cần chuẩn bị thuốc men đầy đủ khi đi xa.
6. Lời khuyên
Quẻ Lữ dạy ta cách sống và ứng xử khi ở nơi đất khách quê người. Thân phận lữ khách đòi hỏi sự cẩn trọng, khiêm nhường và khéo léo gấp bội. Đừng như kẻ “lữ thường thường” chỉ biết bo bo giữ của, hay như kẻ “điểu phần kỳ sào” tự phá hoại chỗ dựa của mình. Hãy biết tạm an (“lữ tức thứ”), quý trọng những người giúp đỡ (“đồng bộc”), và phát huy tài năng của bản thân (“xạ trĩ”) để tạo dựng chỗ đứng. Hãy nhớ: “Nhập gia tùy tục” – đến nhà ai thì theo phong tục người đó. Giữ vững đạo đức và phẩm giá (“lữ trinh”) chính là hành trang quan trọng nhất trên mọi nẻo đường. Dù đi đâu, làm gì, cũng đừng quên mình là ai.
Phần 2. Luận giải theo ngôn ngữ của các bậc tiên nho
1. Quẻ Hỏa Sơn Lữ trong Kinh Dịch
Tổng quan Quẻ Phục Hy Hỏa Sơn Lữ
Quẻ Hỏa Sơn Lữ hay được gọi là Quẻ Lữ, là quẻ số 56 trong 64 Quẻ Kinh Dịch thuộc loại quẻ Bình Hòa.
Ngoại quái: ☲ Ly (離) – Hỏa (火) tức Hỏa – Ngũ hành Hỏa.
Nội quái: ☶ Cấn (艮) – Sơn (山) tức Núi – Ngũ hành Thổ.
Thuộc nhóm tượng quái Ly, Ngũ hành Hỏa.
Thoán từ
Lời kinh: 旅小亨, 旅貞吉.
Dịch âm: Lữ tiểu hanh, lữ trinh cát.
Dịch nghĩa: Quẻ Lữ nhỏ hanh thông sự đi đường chính bền tốt.
Giải nghĩa: Lữ là ky lữ, núi đậu ở dưới, lửa bốc ở trên, là Tượng “bỏ chổ ngừng đậu không ở” cho nên là lữ, lấy hào Sáu Năm được chỗ giữa ở ngoài, mà thuận với hào Dương ở trên và dưới Cấn đậu mà Ly thì bám vào chỗ sáng, cho nên lời Chiêm của nó là có thể nho nhỏ hanh thông, mà giữ được chính bền của việc hành lữ thì tốt. Hành lữ không phải chỗ ở thường, hình như có thể cẩu thả, song “đạo” không chỗ nào không ở, cho nên việc hành lữ cũng có chỗ chính của nó, không thể phút chốc mà lìa cái lẽ chính đó.
Tượng quẻ
Lời kinh: 象⽈: ⼭上有⽕, 旅, 君⼦以明順⽤刑⽽不留獄.
Dịch âm: Tượng viết: Sơn thượng hữu hỏa, Lữ quân tử dĩ minh thuận dụng hình nhi bất lưu ngục.
Dịch nghĩa: Lời Tượng nói rằng: Trên núi có lửa là quẻ Lữ, đấng quân tử coi đó mà sáng ghín dùng hình, mà chẳng để ngục đọng lại.
Giải nghĩa: Lửa ở chỗ cao, cái sáng của nó không đâu không soi tới. Đấng quân tử coi Tượng sáng soi đó thì để sáng ghín dùng hình. Cái sáng không thể cậy, cho nên phải lấy sự ghín mà răn. Sáng mà đậu, cũng là Tượng ghín. Coi tượng “lửa đi không ở yên”, thì không để ngục đọng lại. Ngục là cái chẳng đừng được mà đặt ra. Kẻ dân có tội vào đó, há lại có thể để nó lưu đọng chậm trễ?
Các hào
1. Sơ Lục (Hào 1 âm):
Lời kinh: 初 六: 旅瑣瑣, 斯其所取災.
Dịch âm: Lữ toả toả, tư kì sở thủ tai.
Dịch nghĩa: Ở đậu mà tư cách nhỏ nhen, tẳn mẳn tức là tự chuốc lấy hoạ.
Giải nghĩa: Hào này âm nhu, ở vị thấp nhất, ví với người chí đã cùng, tư cách hèn hạ đối với chủ nhà mình ở đậu mà tham lam, tẳn mẳn, khiến người ta ghét, như vậy là tự rước hoạ vào mình.
2. Lục Nhị (Hào 2 âm):
Lời kinh: 六 二: 旅即次, 懷其資, 得童僕, 貞.
Dịch âm: Lữ tức thứ, hoài kì tư, đắc đồng bộc, trinh.
Dịch nghĩa: Ở đất khách, được chỗ trọn an lành, giữ được tiền bạc, lại có đầy tớ tín cẩn.
Giải nghĩa: Ở đất khách nên nhu thuận, mà hào này âm nhu, đắc trung, đắc chính, trên lại ứng với hào 5, cũng âm nhu, đắc trung mà lại văn minh (ở ngoại quái Ly), như gặp được chủ nhà tốt, mình có chỗ trọn an lành, lại giữ được tiền, có đầy tớ tín cẩn, mọi việc đều tốt cả.
3. Cửu Tam (Hào 3 dương):
Lời kinh: 九 三: 旅, 焚其次, 喪其童僕, 貞, 厲.
Dịch âm: Lữ, phần kì thứ, táng kì đồng bộc, trinh, lệ.
Dịch nghĩa: Ở đất khách, mà (tự mình) đốt chỗ trọ, mất đầy tớ, dù chính đáng cũng nguy.
Giải nghĩa: Hào này quá cương (dương ở vị dương), bất trung, ở đất khách như vậy không tốt, vị lại khá cao, có ý tự cao, bị chủ nhà trọ đuổi, như vậy không khác gì tự đốt chỗ trọ của mình, đầy tớ cũng không ưa mình, mất lòng cả người trên kẻ dưới, dù mình có chính đáng, cũng nguy.
4. Cửu Tứ (Hào 4 dương):
Lời kinh: 九 四: 旅于處, 得其資斧, 我心不快.
Dịch âm: Lữ vu xử, đắc kì tư phủ, ngã tâm bất khoái.
Dịch nghĩa: Tới đất khách, được chỗ ở tạm, có tiền của và đồ hộ thân (tượng trưng bằng cái búa), nhưng trong lòng không vui.
Giải nghĩa: Tuy dương cương nhưng ở vị âm, lại ở dưới cùng ngoại quái, là biết mềm mỏng, tự hạ, tức biết xử thế, cho nên được chỗ ở tạm, có tiền của, vật liệu để phòng thân, nhưng ở trên, hào 5 âm nhu không giúp đỡ gì được 4, ở dưới, hào 1, ứng với 4 âm nhu, lại thấp hèn, cũng chẳng giúp đỡ 4 được gì, vì vậy là lòng 4 không vui.
Các sách cho “tư phủ” là cái búa sắc bén, và giảng là : lữ khách tới nơi, không có quán trọ, chỉ có mảnh đất gai góc, phải dùng búa bén để phá bụi bờ mà làm chỗ ở, nên trong lòng không vui.
5. Lục Ngũ (Hào 5 âm):
Lời kinh: 六 五: 射雉, 一矢亡, 終以譽命.
Dịch âm: Xạ trĩ, nhất thỉ vong, chung dĩ dự mệnh.
Dịch nghĩa: Bắn con trĩ, mất một mũi tên, sau được khen và phúc lộc (hoặc chức vị: mệnh) .
Giải nghĩa: Thường hào 5 trỏ ngôi vua, nhưng nếu vua là làm lữ khách thì là vua mất nước, cho nên chỉ nên coi là một lữ khách thôi, một lữ khách văn mình (ở ngoại quái ly), nhũn nhặn, mềm mỏng (âm nhu) được lòng mọi người (đắc trung) , như vậy tất được tốt đẹp như bắn được con trĩ (một loài chim đẹp – tượng quẻ Ly) tốn hao không mấy mà được tiếng khen, và phúc lộc.
6. Thượng Cửu (Hào 6 dương):
Lời kinh: 上 九: 鳥焚其巢, 旅人先 笑, 後號咷, 喪牛于易, 凶.
Dịch âm: Điểu phần kì sào, lữ nhân tiên tiếu, hậu hào đào, táng ngưu vu dị, hung.
Dịch nghĩa: Con chim cháy mất tổ, người lữ hành trước cười, sau kêu khóc, vì láu táu (vô ý) đánh mất con bò (đức nhu thuận), xấu.
Giải nghĩa: Thân phận ở đậu mà lại ở trên chủ nhà, đã là nghịch cảnh rồi, đã vậy lại quá cương (hào dương), mất lòng người, tất bị đuổi đi, như con chim cháy mất tổ. Mới đầu hớn hở, vì được ở trên người, sau phải kêu khóc vì mất chỗ trọ. Sở dĩ vậy vì khinh dị đánh mất đức nhu thuận (tượng bằng con bò) rất cần ở thời ở đậu.
2. Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Hỏa Sơn Lữ trong chiêm bốc, đoán quẻ
Triệu và điềm của quẻ Lữ
Quẻ Lữ có triệu Túc Điểu Phần Sào – Việc làm không thành. Có bài thơ như sau:
Túc điểu phần sào, việc không thành,
Giao dịch kinh doanh, uổng phí công.
Buôn bán làm ăn, đều ế ẩm,
Cãi cọ liên miên, kiện cáo nhiều.
Dụng thần quẻ Lữ
Quẻ Lữ quẻ thiếu hai thân là Phụ Mẫu Kỷ Mão Mộc và Quan Quỷ Kỷ Hợi Thủy. Đây là hai Phục Thần của Lữ, do vậy hai Phi Thần tương ứng là: Tử Tôn Bính Thìn Thổ và Thê Tài Bính Thân Kim.
Xét trường hợp ở sơ hào: Phục Thần Mộc Kỷ Mão khác Phi Thần Bính Thìn Thổ. Khi dự báo gặp tình huống này, có nghĩa là người giúp mình buộc mình phải theo sự chỉ đạo của họ trong hành động. Hoặc cũng có thể cho thông tin: mọi hành động có kết quả hay không, phụ thuộc vào chính đối tượng gần mình nhất, hoặc đối tượng gần mình nhất mà mình dựa vào đang khống chế hay phản lại mình.
Xét trường hợp ở hào tam: Phi Thần Bính Thân Kim sinh Phục Thần Kỷ Hợi Thủy. Thủy lại trường sinh tại Thân, do đó, Phục Thần không những được xuất hiện mà còn được tiếp thêm sức mạnh. Trong trường hợp này, trong hành động, người hoặc lực lượng hỗ trợ gần nhất giúp mình rất đắc lực và có sức mạnh.
