Luận Giải Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Số 59 – Quẻ Phong Thủy Hoán
Phần 1. Luận đoán quẻ Hoán trong cuộc sống

Ước muốn: Hãy quyết định một đường hướng hành động, luôn luôn bám chặt theo đó và thành công có thể trở thành hiện thực.
Hôn nhân: Có thể khắc phục được các trở ngại và thành công có thể trở thành hiện thực. Trong hôn nhân, khó tránh được những gian khố và vất vả ban đầu. Hạnh phúc và thịnh vượng sẽ đến sau đó.
Tình yêu: Khó tránh được trở ngại lúc đầu. Hãy tiến bước bằng tinh thần bất khuất, kiên định, và có thể gặt hái được thành công.
Gia đạo: Vất vả và gian nan lúc đầu, nhưng rồi vận hội sẽ dần thay đổi.
Con cái: Khó khăn và vất vả vì con cái trong lúc đầu. Hạnh phúc và thịnh vượng về sau. Thai nghén: con gái. Sinh nở an toàn.
Vay vốn: Mặc dù có những khó khăn, nhưng có thể thành công.
Kinh doanh: Những lợi nhuận nhỏ là có thể.
Chứng khoán: Giá giảm bất ngờ.
Tuổi thọ: Nhiều tật bệnh lúc còn trẻ, nhưng về sau thì khỏe mạnh và có thể sống thọ.
Bệnh tật: Thời khắc nguy hiểm, nhưng cuối cùng vẫn bình phục. Những vùng bị ảnh hưởng: hệ thống máu huyết và các cơ quan hô hấp.
Chờ người: Hoặc sẽ đến sớm hơn so với dự định, hoặc sẽ không bao giờ đến.
Tìm người: Đang ở xa. Sẽ không dễ gì tìm được người này.
Vật bị mất: Mất ở ngoài đường và không thể tìm lại được.
Du lịch: Hãy tiến hành.
Kiện tụng và tranh chấp: Có hại cho cả đôi bên. Tốt nhất hãy hòa giải.
Việc làm: Sẽ diễn ra đúng như hy vọng.
Thi cử: Điểm khá.
Kinh doanh mới, thay đổi nghề nghiệp, chuyên môn hay chỗ làm: Tốt đẹp.
Thời tiết: Nhiều mây, về sau thì trời trong xanh.
Phần 2. Luận giải theo ngôn ngữ hiện đại
1. Tên quẻ: Phong Thủy Hoán
2. Ý nghĩa tổng quan
Quẻ Phong Thủy Hoán tượng trưng cho sự tan rã, phân tán và giải tán. Trên là Gió (Phong) – phân tán, dưới là Nước (Thủy) – chảy tràn. Hình ảnh gió thổi trên mặt nước, làm sóng nước tan ra, khuếch tán khắp nơi. “Hoán” nghĩa là tiêu tan, giải tán, phân tán. Quẻ này biểu thị thời kỳ những ràng buộc, kết cấu cũ bị phá vỡ, tình cảm ly tán, tổ chức giải thể, hoặc bệnh tật tiêu tan. Tuy mang nghĩa tiêu cực là phân ly, nhưng nó cũng có mặt tích cực là giải tỏa những ứ đọng, xóa bỏ những cái cũ kỹ, lỗi thời để chuẩn bị cho một sự sắp xếp mới.
3. Hình ảnh và biểu tượng
Hình ảnh: Phong hành thủy thượng – Gió đi trên mặt nước, làm nước phân tán.
Biểu tượng: Hoán, hanh, vương cách hữu miếu, lợi thiệp đại xuyên, lợi trinh – Quẻ Hoán, hanh thông. Nhà vua đến Thái Miếu, có lợi cho việc vượt sông lớn, có lợi cho việc giữ chính bền. Biểu tượng của sự tan rã cần thiết để tái thiết, của việc tìm về cội nguồn tinh thần (vương cách hữu miếu) để vượt qua khó khăn lớn (thiệp đại xuyên).
4. Luận giải từng hào
Hào Sơ Lục: Dụng cứu mã trang, cát – Dùng sức mạnh của con ngựa tốt (để cứu vãn, tập hợp lại), tốt. Khi mới bắt đầu có dấu hiệu phân tán, cần dùng ngay những nguồn lực mạnh mẽ, đáng tin cậy (mã trang) để củng cố, ngăn chặn sự tan rã. Làm được thì tốt.
Hào Cửu Nhị: Hoán bôn kỳ cơ, hối vong – Khi tan rã, chạy đến cái ghế (chỗ dựa, nơi an toàn), hối hận tiêu tan. Trong cơn biến loạn, phân tán, nếu tìm được chỗ nương tựa vững chắc (kỳ cơ), thì có thể thoát nạn và không còn hối tiếc.
Hào Lục Tam: Hoán kỳ thân, vô cửu – Tan rã cái thân (tư tưởng, lợi ích cá nhân), không có lỗi. Biết hy sinh cái tôi, lợi ích nhỏ của bản thân (hoán kỳ thân) vì lợi ích chung, hoặc để giải thoát khỏi những ràng buộc vụn vặt. Đó là điều nên làm.
Hào Lục Tứ: Hoán kỳ quần, nguyên cát, hoán hữu khâu, phỉ di sở tư – Tan rã cả bầy (tập thể xấu), rất tốt lành. Tan rã mà (lại) có gò đống (nơi tập hợp mới), không phải điều tầm thường có thể nghĩ tới. Giải tán một tập thể không tốt, một nhóm lợi ích xấu (hoán kỳ quần) là việc rất tốt. Từ sự tan rã ấy, sẽ hình thành nên những điểm tập hợp mới, tốt đẹp hơn (khâu). Đây là điều kỳ diệu.
Hào Cửu Ngũ: Hoán hãn kỳ đại hiệu, hoán vương cư, vô cửu – Tan rã mồ hôi to như mưa (hãn), tan rã chỗ ở của vua (vương cư), không có lỗi. Sự giải tán, thay đổi lớn lao, làm đảo lộn mọi thứ, kể cả nơi ở của người đứng đầu. Đó là một cuộc “đại hồng thủy” thanh lọc, không phải là điều sai trái.
Hào Thượng Cửu: Hoán kỳ huyết, khứ tích xuất – Tan rã đến cả máu huyết (cốt nhục, tình thân), xa lánh nỗi sợ hãi (tích) mà ra đi. Sự tan rã đến mức tận cùng, cắt đứt cả những ràng buộc huyết thống, tình cảm sâu nặng (huyết). Đó là một sự giải thoát đau đớn nhưng cần thiết để thoát khỏi nỗi sợ hãi và hệ lụy cũ.
5. Ứng dụng quẻ trong cuộc sống
Công danh, sự nghiệp: Công ty giải thể, bộ phận bị giải tán, mất việc. Cần chấp nhận thực tế, tìm hướng đi mới. Cũng có thể là giải tán một liên minh không hiệu quả.
Tài lộc: Tài sản bị phân tán, chia nhỏ, thậm chí mất trắng. Cần bình tĩnh thu xếp, không nên ôm đồm. Đôi khi “hoán” để bảo toàn vốn.
Tình duyên, gia đạo: Gia đình ly tán, vợ chồng ly thân/ly hôn, tình cảm phai nhạt. Cần buông bỏ để mỗi người có cuộc sống mới. Giải tỏa những oán giận tích tụ.
Sức khỏe: Bệnh tật được giải trừ, mồ hôi ra nhiều (sốt) để giải độc. Phẫu thuật cắt bỏ khối u, mô bệnh. Sự “tan rã” của bệnh tật là điều tốt.
6. Lời khuyên
Quẻ Hoán dạy ta về sự buông bỏ và thanh lọc cần thiết. Như gió thổi tan mây, nước cuốn trôi bùn đất, đôi khi cuộc đời cần những cơn “đại hồng thủy” để rửa sạch những gì ứ đọng, cũ kỹ. Sự tan rã, chia lìa tuy đau đớn, nhưng có thể mở đường cho một khởi đầu mới tươi sáng hơn. Hãy can đảm “hoán kỳ thân” – buông bỏ cái tôi ích kỷ, “hoán kỳ quần” – rời xa những tập thể độc hại. Trong cơn biến loạn, hãy tìm về cội nguồn tinh thần (“vương cách hữu miếu”) để giữ vững đạo chính bền. Hãy nhớ: “Bất phá bất lập” – không phá bỏ thì không xây dựng được. Sau cơn mưa trời lại sáng, sau sự tan rã sẽ là sự tái sinh.
Phần 3. Luận giải theo ngôn ngữ của các bậc tiên nho
1. Quẻ Phong Thủy Hoán trong Kinh Dịch
Tổng quan Quẻ Phục Hy Phong Thủy Hoán
Quẻ Phong Thủy Hoán hay được gọi là Quẻ Hoán, là quẻ số 59 trong 64 Quẻ Kinh Dịch thuộc loại quẻ Hung.
Ngoại quái: ☴ Tốn (巽) – Phong (風) tức Gió – Ngũ hành Mộc.
Nội quái: ☵ Khảm (坎) – Thủy (水) tức Nước – Ngũ hành Thủy.
Thuộc nhóm tượng quái Ly, Ngũ hành Hỏa.
Thoán từ
Lời kinh: 渙亨, 王假有廟, 利涉大川, 利貞.
Dịch âm: Hoán hanh, vương giá hữu miếu, lợi thiệp đại xuyên, lợi trinh.
Dịch nghĩa: Quẻ Hoán hanh, vua đến có miếu, lợi sang sông lớn, lợi về chính bền.
Giải nghĩa: Hoán là lìa tan. Người ta lìa tan bởi ở bên trong, lòng người lìa thì tan; chứa sự lìa tan cũng gốc ở bên trong, thu thập lòng người thì tan có thể hợp; cho nên nghĩa quẻ đều chủ về bên trong. “Lợi trinh” nghĩa là cái đao hợp sự lìa tan, cốt ở chính bền.
Tượng quẻ
Lời kinh: 象 ⽈ . ⾵ ⾏ ⽔ 上 . 渙 . 先 王 以 享 于 帝 ⽴ 廟 .
Dịch âm: Tượng viết: Phong hành thủy thượng, Hoán, tiên vương dĩ hưởng vu đế, lập miếu.
Dịch nghĩa: Lời Tượng nói rằng: Gió đi trên nước là quẻ Hoán. Đấng tiên vương coi đó mà cúng chưng trời, dựng miếu.
Giải nghĩa: Gió đi trên nước, có tượng tan lìa, đâng tiên vương coi tượng đó mà cứu sự tan lìa của thiên hạ, đến chưng cúng trời dựng miếu. Thu họp lòng người không gì bằng nhà tôn miếu; sự báo đáp trong việc cúng tế, do ở trong lòng mà ra; cho nên cúng trời, dựng miếu là việc mà lòng người theo về. Cái đạo buộc lòng người, họp sự lia tan không gì lớn hơn thế.
Các hào
1. Sơ Lục (Hào 1 âm):
Lời kinh: 初 六: 用拯, 馬壯, 吉
Dịch âm: Dụng chứng, mã tráng, cát.
Dịch nghĩa: Dùng con ngựa mạnh để cứu vớt, tốt.
Giải nghĩa: Ở đầu thời ly tán, còn có thể gom lại được; hào này âm nhu, kém tài, không đủ sức, nhưng trên có hào 2 dương cương đắc trung, ỷ thác vào được, như đi đường xa có con ngựa khỏe, cho nên tốt.
2. Cửu Nhị (Hào 2 dương):
Lời kinh: 九 二: 渙,奔其机, 悔亡.
Dịch âm: Hoán, bôn kì kỉ, hối vong.
Dịch nghĩa: Lúc ly tán, nên đựa vào hào 1 làm ghế ngồi thì hối hận mất đi.
Giải nghĩa: Thời này là thời ly tán rồi, dễ có việc ăn năn; hào này dương cương đã giúp đựơc cho hào 1, bây giờ nên dựa vào 1 làm ghế ngồi, đỡ đần nhau thì khỏi phải hối hận.
3. Lục Tam (Hào 3 âm):
Lời kinh: 六 三: 渙其躬, 无悔.
Dịch âm: Hoán kì cung, vô hối.
Dịch nghĩa: Đánh tan lòng riêng tây của mình đi thì không hối hận.
Giải nghĩa: Hào này âm nhu, bất trung ,bất chính, là người có lòng vị kỉ, nhưng ở vị dương lại được hào trên cùng chính ứng với nó, mà có lòng lo việc đời (vì là dương cương); nếu 3 bỏ tính vị kỉ đi, lo gánh việc đời với hào trên cùng, thì sẽ không hối hận.
4. Lục Tứ (Hào 4 âm):
Lời kinh: 六 四: 渙其群, 元吉.渙有丘, 匪夷所思.
Dịch âm: Hoán kì quần, nguyên cát. Hoán kì khâu, phỉ di sở tư.
Dịch nghĩa: Giải tán bè phái của mình đi, rất tốt. Vì như vậy là giải tán cái nhỏ để tập hợp cái lớn lại thành gò đống; điều đó người thường không thể nghĩ tới được.
Giải nghĩa: Hào này âm nhu, thuận, giúp đỡ hào 5 vừa cương vừa đắc trung, như vị đại thần giúp một minh quân, mà biết giải tán bè phái của mình đi (sở di nói vậy vì hào 1 ở dưới không ứng viện với 4, cũng như 4 không còn bè phái), để đoàn kết, tập hợp cả quốc dân mà cùng lo cứu nước; như vậy là giải tán cái nhỏ để gom cái lớn lại thành gò đống, rất tốt. Người thường không hiểu được lẽ đó mà chê sao lại giải tán đảng của mình. Muốn vậy phải là người đắc chính (âm ở vị âm) , và đắc trung, cương cường như hào 5.
5. Cửu Ngũ (Hào 5 dương):
Lời kinh: 九 五: 渙汗其大號, 渙王居, 无咎.
Dịch âm: Hoán hãn kì đại hiệu, hoán vương cư,vô Cửu.
Dịch nghĩa: Ban bố hiệu lệnh lớn khắp nước như mồ hôi phát ra ở khắp thân thể, phát hết kho lẫm của vua để chu cấp cho dân, không có lỗi.
Giải nghĩa: Năm chữ “Hoán hãn kì đại hiệu” tối nghĩa. Chu Hi giảng là hủy bỏ các hiệu lệnh trước đi, những hiệu lệnh đó như mồ hôi, chảy ra mà không trở lại”. Chúng tôi theo Phan Bội Châu mà dịch như trên là ban bố hiệu lệnh đi khắp nơi. J Legge và R. WilheLm cũng hiểu như vậy, nhưng giảng là những hiệu lệnh đó cứu nguy được cho dân như người bị bệnh mà phát tán, làm cho mồ hôi toát ra vậy.
Ba chữ sau: “Hoán vương cư” nghĩa dễ hiểu: vua nên tán tài để tụ dân, cũng như hào 4, giải tán bè phái để tụ dân, đều là chính sách tốt ở thời ly tán cả.
6. Thượng Cửu (Hào 6 dương):
Lời kinh: 上 九: 渙其血去, 逖出, 无咎.
Dịch âm: Hoán kỳ huyết khử, địch xuất, vô Cửu.
Dịch nghĩa: Tan (trừ) được máu )vết thương cũ), thoát khỏi kinh sợ (chữ [逖 ] ở đây nên đổi làm chữ dịch [惕] là kinh sợ), không có lỗi.
Giải nghĩa: Hào này ở cuối thời ly tán, sắp hết xấu; nó có tài (dương cương), lại được hào 3 ứng viện, cho nên nó thành công, trừ được vết thương ly tán và thoát khỏi cảnh lo sợ.
2. Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Phong Thủy Hoán trong chiêm bốc, đoán quẻ
Triệu và điềm của quẻ Hoán
Quẻ Hoán có triệu Cách Hà Vọng Kim – Uổng công phí sức. Có bài thơ như sau:
Cách hà vọng kim, muốn không được,
Cầu tài cầu lộc, chẳng thấy đâu.
Hôn nhân góp vốn, thì trục trặc,
Của mất, người đi, chẳng chịu về.
Dụng thần quẻ Hoán
Quẻ Hoán thiếu hai Thân là: Quan Quỷ Kỷ Hợi Thủy và Thê Tài: Kỷ Dậu Kim. Đây là hai Phục Thần của Hoán. Hai Phi Thần tương ứng là: Huynh Đệ Mậu Ngọ hào tam và Tử Tôn Tân Mùi hào tứ.
Xét trường hợp hào tam: Phục Thần Thủy khắc Phi Thần Ngọ Hỏa. Trường hợp này như các quẻ trên, gọi là “xuất bao”, người hỗ trợ, giúp mình phản lại mình. Khi dự báo, cho thông tin: hãy cẩn thận với chính người gần mình nhất.
Trường hợp hào tư: Phi Thần Mùi Thổ Sinh Phục Thần Dậu Kim, nghĩa là Phục Thần xuất hiện được. Điều này cho biết, người thân cận, người giúp mình có sức mạnh, có khả năng.
