Ý nghĩa quẻ 61 – Phong Trạch Trung Phu trong Kinh dịch

Luận Giải Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Số 61 – Quẻ Phong Trạch Trung Phu

Quẻ Phục Hy Số 61 Phong Trạch Trung Phu
Quẻ Phục Hy Số 61 Phong Trạch Trung Phu

Phần 1. Luận đoán quẻ Trung Phu trong cuộc sống

Ước muốn: Hãy hành động bằng sự thành thật và ước muốn có thể biến thành hiện thực. Sự thiếu thành thật sẽ dẫn đến thất bại.

Hôn nhân: Một cuộc hôn nhân mỹ mãn, tâm đầu ý hợp. Có thể thành công.

Tình yêu: Đang trong một tình yêu đầy đam mê. Sự thành thật giờ đây sẽ dẫn đến hạnh phúc.

Gia đạo: Hưởng thụ hạnh phúc và thịnh vượng trong sự hòa thuận.

Con cái: Hòa thuận giữa cha mẹ và con cái – hạnh phúc và thịnh vượng. Thai nghén: con gái.

Vay vốn: Diễn ra suôn sẻ.

Kinh doanh: Diễn ra suôn sẻ. Lợi nhuận trung bình.

Chứng khoán: Giá chẳng bao lâu sẽ tăng.

Tuổi thọ: Hãy chú ý chăm sóc cơ thể và việc sống thọ là điều khả thi.

Bệnh tật: Có thể bình phục. Sưng dạ dày, chứng viêm phúc mạc và các bệnh về thận.

Chờ người: Nhất định sẽ đến.

Tìm người: Đừng lo. Người này sẽ sớm tự động trở về.

Vật bị mất: Mất bên trong nhà hoặc đang rơi vào tay người khác. Người này sẽ mang trả lại.

Du lịch: Tốt lành. Chuyến đi an toàn và tốt đẹp.

Kiện tụng và tranh chấp: Tranh chấp ngoan cố sẽ dẫn đến bất lợi. Tốt nhất hãy tìm cách hòa giải.

Việc làm: Hanh thông.

Thi cử: Điểm rất cao.

Kinh doanh mới, thay đổi nghề nghiệp, chuyên môn hay chỗ làm: Hãy tiến hành.

Thời tiết: Trong, về sau nhiều mây.

Phần 2. Luận giải theo ngôn ngữ hiện đại

1. Tên quẻ: Phong Trạch Trung Phu 

2. Ý nghĩa tổng quan

Quẻ Phong Trạch Trung Phu tượng trưng cho sự chân thành, tín nghĩa và thấu hiểu từ bên trong. Trên là Gió (Phong) – lan tỏa, dưới là Đầm (Trạch) – sâu lắng. Hình ảnh gió thổi trên mặt đầm, thấu suốt tận đáy, không gì che giấu được. “Trung Phu” nghĩa là lòng thành thật ở trong lòng. Quẻ này biểu thị sức mạnh của sự chân thành, trung thực; khi lòng dạ ngay thẳng, trong sáng thì có thể cảm hóa người khác, thậm chí cả muông thú (hào từ có hình ảnh “hạc minh”, “ngã hữu hảo tước”). Đây là quẻ của sự tin cậy, của lời hứa và đạo đức nội tâm.

3. Hình ảnh và biểu tượng

Hình ảnh: Trạch thượng hữu phong – Trên đầm có gió. Gió thổi, nước gợn, lộ rõ mọi thứ.

Biểu tượng: Trung Phu, đốn ngư cát, lợi thiệp đại xuyên, lợi trinh – Trung Phu, (cá) đốn (một loài) cá thì tốt. Có lợi cho việc vượt sông lớn, có lợi cho việc giữ chính bền. Và Quân tử dĩ nghị ngục hoãn tử – Người quân tử dùng (tinh thần Trung Phu) để thảo luận việc hình ngục, trì hoãn việc giết chóc. Biểu tượng của lòng nhân từ, sự thận trọng trong phán xét, xuất phát từ sự chân thành thấu hiểu.

4. Luận giải từng hào

Hào Sơ Cửu: Ngu cát, hữu tha bất yên – Yên ổn thì tốt, nhưng có ý khác (tha) thì không yên. Khi đã có lòng thành (Trung Phu), thì giữ sự an định là tốt. Nếu trong lòng còn những toan tính, ý đồ khác (hữu tha), thì tâm sẽ không yên. Thành ý phải thuần khiết.

Hào Cửu Nhị: Minh hạc tại âm, kỳ tử hòa chi, ngã hữu hảo tước, ngô dữ nhĩ di chi – Chim hạc kêu trong bóng râm (nơi kín đáo), con nó hòa theo. Ta có chén rượu ngon, ta cùng ngươi chia đôi. Lòng chân thành (như tiếng hạc) dù không phô trương, ở nơi kín đáo (tại âm) vẫn có sức thu hút, cảm ứng (kỳ tử hòa chi). Và người có lòng thành sẵn sàng chia sẻ những thứ tốt đẹp nhất (hảo tước) với người đồng điệu.

Hào Lục Tam: Đắc địch, hoặc cổ hoặc bãi, hoặc thế hoặc khấp – Gặp đối thủ, khi thì đánh trống (hăng hái), khi thì thôi (bãi), khi thì than thở (thế), khi thì khóc (khấp). Khi lòng thành chưa đủ vững, gặp đối thủ (đắc địch) dễ dao động, hành động lúc hăng lúc chán, tâm trạng buồn tủi. Thiếu sự kiên định.

Hào Lục Tứ: Nguyệt cơ vọng, mã đệ vong, vô cửu – Mặt trăng gần tròn (cơ vọng), con ngựa cái (mã đệ) bị mất, không có lỗi. Lòng thành đã gần đến chỗ viên mãn, sáng tỏ (nguyệt cơ vọng). Có thể có một số mất mát nhỏ (mã đệ vong), nhưng không đáng kể, không thành lỗi.

Hào Cửu Ngũ: Hữu phu luyến như, vô cửu – Có lòng tin gắn bó keo sơn (luyến như), không có lỗi. Ở vị trí trung tâm, có được lòng tin yêu, gắn bó chặt chẽ của mọi người nhờ vào lòng thành thật. Điều đó rất tốt.

Hào Thượng Cửu: Hanh âm đăng vu thiên, trinh hung – Tiếng chim hanh (một loài chim) vang lên tận trời, dù chính bền cũng xấu. Lòng thành, sự tín nghĩa được tán dương, đề cao quá mức (đăng vu thiên). Điều đó dễ sinh ra kiêu ngạo, hoặc bị đố kỵ. Dù có chính bền cũng trở thành nguy hiểm. Thành tín cần được giữ một cách khiêm tốn, tự nhiên.

5. Ứng dụng quẻ trong cuộc sống

Công danh, sự nghiệp: Thành công nhờ vào uy tín, chữ tín. Lời nói có trọng lượng. Hợp tác dựa trên sự tin cậy lẫn nhau. Rất tốt cho các vị trí đòi hỏi sự trung thực (luật sư, cố vấn, lãnh đạo).

Tài lộc: Của cải đến từ những nguồn đáng tin cậy, hợp đồng minh bạch. Có thể được tin tưởng giao tài sản, quỹ đầu tư. Không nên tham gia các giao dịch mập mờ.

Tình duyên, gia đạo: Tình cảm chân thành, sâu sắc, tin tưởng tuyệt đối vào nhau. Gia đình hòa thuận, yêu thương. Là nền tảng của hạnh phúc bền vững.

Sức khỏe: Tinh thần thanh thản, cởi mở là dấu hiệu của sức khỏe tốt. Sự chân thành, không dối trá cũng giúp tâm an, thân khỏe. “Tâm an thần định”.

6. Lời khuyên

Quẻ Trung Phu dạy ta rằng, sức mạnh vĩ đại nhất chính là lòng chân thành. Hãy sống với trái tim trong sáng, không giả dối. Lòng thành ấy, như gió thấu đáy hồ, sẽ cảm hóa được người khác và tạo nên sự tin cậy sâu sắc (“hữu phu luyến như”). Hãy giữ vững sự thành thật ngay cả khi ở một mình (“minh hạc tại âm”). Tuy nhiên, đừng để sự thành tín của mình trở thành công cụ để khoe khoang, đề cao bản thân (“hanh âm đăng vu thiên”). Hãy nhớ: “Tín vi bản” – chữ tín là gốc. Một lời hứa, một lòng tin chân thật có giá trị hơn ngàn vàng. Nó chính là chiếc thuyền vững chắc nhất để bạn “thiệp đại xuyên” – vượt qua mọi con sông lớn của cuộc đời.

Phần 3. Luận giải theo ngôn ngữ của các bậc tiên nho

1. Quẻ Phong Trạch Trung Phu trong Kinh Dịch

Tổng quan Quẻ Phục Hy Phong Trạch Trung Phu

Quẻ Phong Trạch Trung Phu hay được gọi là Quẻ Trung Phu, là quẻ số 61 trong 64 Quẻ Kinh Dịch thuộc loại quẻ Cát.

Ngoại quái: ☴ Tốn (巽) – Phong (風) tức Gió – Ngũ hành Mộc.

Nội quái: ☱ Đoài (兌) – Trạch (澤) tức Đầm – Ngũ hành Kim.

Thuộc nhóm tượng quái Cấn (Quẻ Du Hồn), Ngũ hành Thổ.

Thoán từ

Lời kinh: 中孚, 豚魚吉, 利涉大川, 利貞.

Dịch âm: Trung phu, đồn ngư cát, lợi thiệp đại xuyên, lợi trinh.

Dịch nghĩa: Trong lòng có đức tin tới cảm được heo và cá, tốt như vậy thì lội qua sông lớn được, giữ đạo chính thì lợi.

Giải nghĩa: Phu là tin. Nó là quẻ hai hào Âm ở trong, bốn hào Dương ở ngoài, mà hai hào Dương Hai và năm đều được chỗ giữa. Nói về quẻ giữa rỗng, nói về hai thể thì giữa đặc, đều là Trượng phu tín. Lại cây ở trên Chằm, ngoài đặc trong rỗng đều là Tượng thuyền lái. Rất tin có thể cảm được cá lợn, có thể qua chỗ hiểm nạn, mà không thể làm cho sự chính bền lớn ra cho nên kẻ xem hễ có thể đem đến sự cảm ứng của loài lớn cá thì tốt mà lợi về sang sông lớn, lại ắt lợi về chính bền. 

Tượng quẻ

Lời kinh: 象⽈.澤上有⾵.中孚.君⼦以議獄緩死. 

Dịch âm: Tượng viết: Trạch thượng hữu phong, Trung phu, quân tử di nghị ngục hoãn tử.

Dịch nghĩa: Lời Tượng nói rằng: Trên chằm có gió là quẻ Trung phu, đấng quân tử tử coi đó mà bàn việc ngục, hoãn tội chết.

Giải nghĩa: Trên chằm có gió, cảm ở trong chằm. Thể nước trông không, cho nên gió mới vào được; lòng người trống không, cho nên các việc mới cảm được. Gió động ở trong chằm cùng như đức tin cảm ở trong lòng, cho nên là Tượng “trung tín – giữa tin”. Đấng quân tử coi tượng đó để bàn việc ngục và hoãn tội chết. Đấng quân tử với sự bàn ngục, chỉ biết lòng thành thực mà thôi; với việc quyết đoán tội chết, cực kỳ thương xót mà thôi, cho nên thành ý thường cần được thư hoãn, thư hoãn là rộng rãi vậy. Với việc thiên hạ không việc gì không hết lòng thành thật của mình, bàn viejc ngục, hoãn tội chết là việc lớn nhất trong các việc đó. 

Các hào

1. Sơ Cửu (Hào 1 dương): 

Lời kinh: 初 九: 虞吉, 有它, 不燕.

Dịch âm: Ngu cát, hữu tha, bất yến.

Dịch nghĩa: Liệu tính cho chắc chắn rồi mới tin thì tốt; có lòng nghĩ khác thì không yên.

Giải nghĩa: Hào này mới vào thời Trung phu, tuy ứng với hào 4, âm nhu, đắc chính là người đáng tin, nhương bước đầu, phải xét cho kỹ lưỡng xem 4 có đáng tin không, khi đã tin rồi thì đừng đổi chí hướng, lòng phải định rồi mới tĩnh mà yên được.

2. Cửu Nhị (Hào 2 dương): 

Lời kinh: 九 二: 鶴鳴在陰.其子和之.我有好爵.吾與爾靡之.

Dịch âm: Minh hạc tại âm, kỳ tử hoạ chi; Ngã hữu hảo tước, ngô dữ nhĩ mĩ chi.

Dịch nghĩa: Như con hạc mẹ gáy ở bóng râm, con con nó hoạ lại; lại như tôi có chén rượu ngon, tôi cùng anh chia nhau.

Giải nghĩa: Hào này ứng với hào 5 ở trên, cả hai đều có đức dương cương , lại đắc trung đều có lòng thành thực, đều là những hào quan trọng trong quẻ Trung phu; hai bên cảm ứng, tương đắc với nhau như hạc mẹ gáy mà hạc con hoạ lại, hoặc như một người có chén rượu ngon mà chia với bạn.
Theo Hệ từ thượng truyện, Chương VIII, số 5, Khổng tử giải thích ý nghĩa hào này như sau:
“Người quân tử ở trong nhà mà nói ra, nếu lời nói hay thì người ngoài nghìn dặm cũng hưởng ứng, huống chi là người ở gần; . . hành vi từ gần phát ra thì ảnh hưởng hiện ngay ở xa . . như vậy chẳng nên thận trọng lắm ư?”
Khổng tử đã hiểu rộng “tiếng gáy của con hạc” là lời nói hay; và “chén rượu ngon’ là hành vi đẹp, mà khuyên chúng ta phải thận trọng về ngôn, hành.

3. Lục Tam (Hào 3 âm):

Lời kinh: 六 三: 得敵, 成鼓, 或罷, 或泣, 或歌.

Dịch âm: Đắc dịch, hoặc cổ, hoặc bãi, hoặc khấp, hoặc ca.

Dịch nghĩa: Gặp được bạn (địch) lúc thì đánh trống vui múa, lúc thì chán nản mà ngừng, lúc thì khóc, lúc thì hát.

Giải nghĩa: Hào này âm nhu bất chính, bất trung, ứng với hào ở trên cùng, dương cương mà bất trung, bất chính, như hai người ăn ở với nhau mà không thành thực, tính tình thay đổi luôn luôn, vui đó rồi khóc đó “Hoặc cổ hoặc bãi”, (có người hiểu là: lúc thì cổ võ, lúc thì bỏ đi).

4. Lục Tứ (Hào 4 âm):

Lời kinh: 六 四: 月幾望, 馬匹亡, 无咎.

Dịch âm: Nguyệt cơ vọng, mã thất vong, vô Cửu.

Dịch nghĩa: Trăng mười bốn (gần tới rằm), con người bỏ bạn mà tiến lên, không lỗi.

Giải nghĩa: Hào này đắc chính, thân cận với hào 5, được vua tín nhiệm sự thịnh vượng đã gần tới tuyệt đỉnh rồi, như trăng mười bốn gần đến ngày rằm. Nó ứng với hào 1, hai bên cặp kè nhau như cặp ngựa, nhưng nó biết phục tòng đạo lý, nên sau bỏ 1, để chuyên nhất với 5, như vậy không có tội lỗi gì.

5. Cửu Ngũ (Hào 5 dương):

Lời kinh: 九 五: 有孚攣如, 无咎.

Dịch âm: Hữu phu luyến như, vô Cửu.

Dịch nghĩa: Có lòng chí thành ràng buộc, không lỗi.

Giải nghĩa: Như trên đã nói, hào này ở ngôi chí tôn, có đủ đức trung chính, thành tín buộc được lòng thiên hạ.

6. Thượng Cửu (Hào 6 dương):

Lời kinh: 上 九: 翰音登于天, 貞凶.

Dịch âm: Hàn âm đăng vu thiên, trinh hung.

Dịch nghĩa: Tiếng gà lên tận trời, dù có chính đáng cũng xấu.

Giải nghĩa: Hào này dương cương, không đắc trung lại ở vào thời thành tín đã cùng cực, đức tin đã suy, vậy là có danh mà không có thực. Lại thêm không biết biến thông, muốn cố giữ đức tín (vì có tính dương cương, cho nên ví với con gà không là loài bay cao được mà muốn lên tới trời.
Vậy lòng thành tín vẫn là tốt, nhưng phải đừng thái quá mà biết biến thông, Phan Bội Châu nhắc truyện ngụ ngôn anh chàng họ Vĩ (có sách nói là họ Vi) thời Xuân Thu hẹn với một người con gái ở dưới cầu; người đó không tới, nước lên cao, anh ta cứ ôm cột cầu chịu chêt. Tín như vậy là ngu, không biết biến thông.

2. Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Phong Trạch Trung Phu trong chiêm bốc, đoán quẻ

Triệu và điềm của quẻ Trung Phu

Quẻ Trung Phu có triệu Hành Tẩu Bạc Băng – Vô cùng tốt lành. Có bài thơ như sau:

Tuấn điểu xuất lung, đại tốt lành,

Cầu tài cầu lợi đại hanh thông.

Kinh doanh, góp vốn đều thuận lợi,

Bệnh tật, kiện tụng chẳng gặp hung.

Dụng thần quẻ Trung Phu

Quẻ Trung Phu là quẻ thứ bảy của tượng Cấn, gọi là quẻ Du Hồn. Quẻ thiếu hai lục thân là Thê Tài (hào ngũ) và Tử Tôn (hào tam) nếu đem so với lục thân của Cấn, đây chính là hai Phục Thần của Trung Phu. Vậy hai Phi Thần quẻ này là Tân Tỵ Hỏa và Đinh Sửu Thổ.

Trường hợp thứ nhất ở ngũ hào: Phi khắc Phục (Hỏa và Thủy). Theo vòng trường sinh: Thủy tuyệt ở Tỵ, ở đây sự khắc lại ở Tỵ nên gọi là: “Phục Thần tuyệt ở Phi Thần” – Phục vừa gặp Phi thì đã bị diệt. Cũng theo vòng trường sinh, Phục muốn xuất hiện được phải gặp năm, tháng Thân, vì Thê Tài lúc đó mới gặp trường sinh.

Trường hợp thứ hai ở tam hào: Phi Sinh Phục, nhưng theo vòng trường sinh, Kim Phục Thần lại nhập mộ (chết) tại Sửu, trùng với hào Phi Thần của Trung Phu. Trường hợp này Dịch Lý gọi là “Phục Thần nhập mộ ở Phi Thần”, Phục muốn xuất hiện được, phải chờ đến ngày phá Mộ, tức ngày Mùi, tháng Mùi, hoặc năm Mùi. (hành Thổ).