Ý nghĩa quẻ 62 – Lôi Sơn Tiểu Quá trong Kinh dịch

Luận Giải Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Số 62 – Quẻ Lôi Sơn Tiểu Quá

Quẻ Phục Hy Số 62 Lôi Sơn Tiểu Quá
Quẻ Phục Hy Số 62 Lôi Sơn Tiểu Quá

Phàn 1. Luận đoán quẻ Tiểu Quá trong cuộc sống

Ước muốn: Chỉ có cơ hội thành công rất nhỏ. Những ước muốn lớn lao thì không thể thực hiện được.

Hôn nhân: Cuộc hôn nhân không tương hợp, không xứng lửa vừa đôi và dẫn đến cảnh chia tay. Tốt nhất hãy cấn thận suy nghĩ lại.

Tình yêu: Không thành công trong một thời gian. Nhưng sự trễ nải quá lâu sẽ dẫn đến thất bại, bởi phía bên kia có thể thay đối tình cảm.

Gia đạo: Bất hòa trong gia đình, gia cảnh suy vi. Có khả năng bạn sẽ rời khỏi quê nhà và kiếm sống ở xa.

Con cái: Bất hòa giữa cha mẹ và con cái, và giữa con cái với nhau. Thai nghén: con trai.

Vay vốn: Chỉ có thể vay được những khoản nhỏ, còn khoản tiền lớn thì không.

Kinh doanh: Thua lỗ và thất bại.

Chứng khoán: Giá thấp. Sẽ có bước tăng giá nhảy vọt về sau, nhưng rồi lại giảm xuống lần nữa.

Tuổi thọ: Suy yếu, thường xuyên bệnh tật, có khả năng đoản thọ.

Bệnh tật: Sẽ xấu đi. Phải cực kỳ chú ý thì mới có thể bình phục được. Tiểu đường và các bệnh ở ngực.

Chờ người: Sẽ không đến.

Tìm người: Đang ở xa và không thể tìm được.

Vật bị mất: Đã bị đánh cắp hay bị mất và không thể tìm lại được.

Du lịch: Không thuận lợi.

Kiện tụng và tranh chấp: Bất lợi. Tốt nhất hãy ngừng lại.

Việc làm: Không hy vọng.

Thi cử: Điểm kém.

Kinh doanh mới, thay đổi nghề nghiệp, chuyên môn hay chỗ làm: Bất lợi. Tốt nhất hãy chờ dịp khác.

Thời tiết: Nhiều mây vào buổi sáng và buổi tối nhưng quang đãng vào ban trưa.

Phần 2. Luận giải theo ngôn ngữ hiện đại

1. Tên quẻ: Lôi Sơn Tiểu Quá

2. Ý nghĩa tổng quan

Quẻ Lôi Sơn Tiểu Quá tượng trưng cho sự vượt quá mức nhỏ, sự khiêm tốn thái quá và việc làm những việc nhỏ. Trên là Sấm (Lôi) – động, dưới là Núi (Sơn) – tĩnh. Hình ảnh sấm sét trên đỉnh núi, âm thanh lớn nhưng ảnh hưởng không xa. “Tiểu Quá” nghĩa là vượt quá một chút, hoặc làm quá trong những việc nhỏ nhặt. Quẻ này khuyên con người trong thời điểm không thuận lợi, nên khiêm nhường, cẩn trọng, chỉ nên làm những việc nhỏ, tầm thường (như tang lễ, cúng tế) thì tốt, không nên mưu đồ đại sự. Đây là quẻ của sự thu mình, làm nhỏ để tồn tại.

3. ảnh và biểu tượng

Hình ảnh: Sơn thượng hữu lôi – Trên núi có sấm. Sấm trên núi cao, âm vang nhưng nhanh tắt.

Biểu tượng: Tiểu Quá, tiểu hanh, lợi trinh – Tiểu Quá, hanh thông nhỏ, có lợi cho việc giữ chính bền. Và Khả tiểu sự, bất khả đại sự – Có thể làm việc nhỏ, không thể làm việc lớn. Biểu tượng của việc biết thời, biết thế, không cưỡng lại thời vận.

4. Luận giải từng hào

Hào Sơ Lục: Tiểu quá, điểu di, hung – (Hành động như) con chim bay (vọt lên) một cách quá mức nhỏ (liều lĩnh), xấu. Ở vào thời Tiểu Quá, nếu hành động như con chim non bay vọt lên một cách liều lĩnh, dù chỉ là “tiểu quá”, cũng sẽ gặp nguy hiểm. Cần hết sức thận trọng.

Hào Lục Nhị: Quá kỳ tổ, ngộ kỳ tự, bất cập kỳ quân, ngộ kỳ thần, vô cửu – Vượt qua ông nội (tổ), gặp bà nội (tự). Không kịp gặp vua (quân), gặp bề tôi (thần), không có lỗi. Trong hoàn cảnh này, không đạt được mục tiêu cao (quân) mà chỉ đạt được mục tiêu thấp hơn, phụ (tự, thần). Điều đó là phù hợp, không có lỗi. Biết hài lòng với kết quả nhỏ.

Hào Cửu Tam: Phất quá phòng chi, tòng hoặc tường chi, hung – Không ngăn chặn nó (kẻ tiểu nhân, nguy cơ), có kẻ theo mà làm hại, xấu. Không biết đề phòng, ngăn chặn từ sớm (phất quá phòng), để đến khi có kẻ theo đó mà gây họa (tòng hoặc tường). Rất nguy.

Hào Cửu Tứ: Vô cửu, phất quá ngộ chi, vãng lệ tất cảnh, vật dụng vĩnh trinh – Không có lỗi. Không vượt quá mà gặp nó (tình thế), tiến lên nguy, cần cảnh giác. Chớ có dùng cách giữ chính bền cứng nhắc mãi. Ở vào thế không nên vượt quá, nếu gặp tình thế khó khăn, cứ tiến lên sẽ nguy. Cần cảnh giác. Quan trọng là phải linh hoạt, đừng cố chấp giữ một nguyên tắc cứng nhắc (vĩnh trinh) mãi.

Hào Lục Ngũ: Mật vân bất vũ, tự ngã tây giao, công nhạc thủ bỉ tại huyền – Mây dày mà không mưa, từ nơi giao tế phía tây của ta. Ông công (hay người săn) bắn được con chim ở trong hang. Thời cơ chưa chín muồi (mật vân bất vũ). Nếu cứ cố gắng (như người đi săn), có thể sẽ có thu hoạch nhỏ, bất ngờ (thủ bỉ tại huyền) ở một nơi kín đáo.

Hào Thượng Lục: Phất ngộ quá chi, điểu di chi hung, thị vị tai tai – Không gặp mà vượt quá nó (nguy hiểm), (như) con chim bay (vọt lên) gặp hung. Đó gọi là tai họa vậy. Không gặp trở ngại trực tiếp mà lại hành động quá mức, liều lĩnh (phất ngộ quá chi). Điều đó giống như con chim bay vọt lên gặp bão, chính là tự rước lấy tai họa.

5. Ứng dụng quẻ trong cuộc sống

Công danh, sự nghiệp: Thời điểm không thuận lợi để thăng chức, mở mang lớn. Nên làm tốt công việc nhỏ, thường ngày. Tránh đề xuất sáng kiến lớn, dễ bị bác bỏ. “Khả tiểu sự, bất khả đại sự”.

Tài lộc: Không nên đầu tư lớn, mạo hiểm. Chỉ nên tiết kiệm, hoặc đầu tư vào những khoản rất nhỏ, an toàn. Có thể có thu nhập nhỏ ngoài ý muốn.

Tình duyên, gia đạo: Không nên kỳ vọng quá cao vào người bạn đời. Hãy trân trọng những điều nhỏ bé, bình dị. Tránh to tiếng, cãi vã vì chuyện nhỏ.

Sức khỏe: Bệnh nhẹ, có thể tự khỏi. Không cần dùng thuốc mạnh. Chú ý phòng ngừa các bệnh vặt. Nghỉ ngơi, thư giãn là chính.

6. Lời khuyên

Quẻ Tiểu Quá dạy ta nghệ thuật sống khiêm nhường và thích nghi trong thời điểm không thuận lợi. Hãy như ngọn núi, im lặng đón nhận tiếng sấm rồi để nó trôi qua. Đừng cố gắng làm những việc lớn lao (“bất khả đại sự”), mà hãy tập trung hoàn thành thật tốt những việc nhỏ, những bổn phận thường ngày (“khả tiểu sự”). Hãy biết bằng lòng với những kết quả nhỏ, phụ (hào 2). Đặc biệt, phải luôn cảnh giác, đề phòng từ sớm (hào 3), và đừng bao giờ hành động liều lĩnh như “điểu di” (chim non bay vọt) khi chưa đủ lực. Hãy nhớ: “Tiểu tâm đắc tiểu quả, đại tâm gặp đại họa”. Sự thận trọng và khiêm tốn trong giai đoạn này chính là vũ khí sinh tồn khôn ngoan nhất.

Phần 3. Luận giải theo ngôn ngữ của các bậc tiên nho

1. Quẻ Lôi Sơn Tiểu Quá trong Kinh Dịch

Tổng quan Quẻ Phục Hy Lôi Sơn Tiểu Quá

Quẻ Lôi Sơn Tiểu Quá hay được gọi là Quẻ Tiểu Quá, là quẻ số 62 trong 64 Quẻ Kinh Dịch thuộc loại quẻ Bình Hòa.

Ngoại quái: ☳ Chấn (震) – Lôi (雷) tức Sấm – Ngũ hành Mộc.

Nội quái: ☶ Cấn (艮) – Sơn (山) tức Núi – Ngũ hành Thổ.

Thuộc nhóm tượng quái Đoài (Quẻ Du Hồn), Ngũ hành Kim.

Thoán từ

Lời kinh: 小過亨, 利貞.

Dịch âm: Tiểu quá hanh, lợi trinh.

Dịch nghĩa: Cái nhỏ nhiều: Hanh thông hợp đạo chính thì lợi. Có thể làm việc nhỏ, không thể làm việc lớn. Con chim bay mà để tiếng kêu lại, không nên lên cao mà nên xuống thấp. Người quân tử biết được như vậy thì tốt.

Giải nghĩa: Quá là vượt qua mực thường. Nếu uốn cong là quá thằng, sự quá đó cốt để tới sự chính vậy, việc cũng có khi nên thế, phải đợi quá đi mới hanh được, cho nên quẻ Tiểu Quá tự nó đã nghĩa hanh. Lợi trinh nghĩa là đạo quá lời về chính bền. Chẳng lỗi với lẽ nên phải ở đương thời thì gọi là chính.

Tượng quẻ

Lời kinh: 象⽈.⼭上有雷.⼩過.君⼦以⾏過乎恭.喪過乎哀.⽤過乎儉. 

Dịch âm: Tượng viết: Sơn thượng hữu lôi, Tiểu quá, quân tử dĩ hạnh quá hồ cung, tang quá hồ ai, dụng quá hồ kiệm. 

Dịch nghĩa: Lời Tượng nói rằng: Trên núi có sấm là quẻ Tiểu Quá. Đấng quân tử coi đó mà nên quá chưng kinh, tang quá chưng thương, dùng quá chưng kiệm. 

Giải nghĩa: Sâm nhức trên núi, tiếng nó vượt qua vượt thường, cho nên là nhỏ quá. Việc trong thiên hạ có khi nên quá mà không thể quá lắm, cho nên là nhỏ quá. Đấng quân tử coi tượng nhỏ quá đó mà việc gì nên quá thì cố gắng, như là nết quá chưng kính, tang quá chưng thương, dùng quá chưng kiệm. Đáng quá mà quá tức là nên phải; chẳng đáng quá mà quá thì quá rồi.

Các hào

1. Sơ Lục (Hào 1 âm):

Lời kinh: 初 六: 飛鳥以凶.

Dịch âm: Phi điểu dĩ hung.

Dịch nghĩa: Chim (nên nấp mà lại) bay, nên xấu.

Giải nghĩa: Hào này âm nhu, bất tài, được hào 4, dương; giúp, lại ở thời “hơi quá” (Tiểu quá), nên hăng hái muốn làm việc quá, e mắc vạ, cho nên xấu. Chỉ nên làm chim nấp, đừng làm chim bay.

2. Lục Nhị (Hào 2 âm):

Lời kinh: 六 二: 過其祖, 遇其妣, 不及其君. 遇其臣, 无咎.

Dịch âm: Quá kì tổ, ngộ kì tỉ, bất cập kì quân. Ngộ kì thần ,vô Cửu.

Dịch nghĩa: Vượt qua ông mà gặp bà; không được gặp vua thì nên giữ phận bề tôi, như vậy không lỗi.

Giải nghĩa: Hào nay nhu thuận, trung chính ở vào thời Tiểu qua,1 có quá một chút mà không lỗi. Nó là âm đáng lẽ cầu dương mà nó lại vượt hai hào dương (3 và 4 ) để gặp (ứng với 5) nghĩa là gặp âm nữa, cho nên Hào từ nói là vượt ông mà gặp bà. Hào từ khuyên hào này ở thấp, là phận làm tôi, không gặp được vua thì cứ giữ phận bề tôi (đứng vào hàng những bề tôi khác) .
Hào này tối nghĩa, chúng tôi dịch theo Phan Bội Châu, Chu Hi giảng là: không gặp được vua thì gặp bề tôi, như vậy là giữ được trung, chính, tuy hơi quá (vì muốn gặp vua) mà không lỗi (sau gặp bề tôi). Cả hai cách giảng đều không xuôi.

3. Cửu Tam (Hào 3 dương):

Lời kinh: 九 三: 弗過防之, 從或戕之, 凶.

Dịch âm: Phất quá phòng chi, tòng hoặc tường chi, hung.

Dịch nghĩa: Chẳng quá phòng bị (tiểu nhân) thì rồi sẽ bị chúng làm hại đấy.

Giải nghĩa: Thời Tiểu qua; tiểu nhân nhiều hơn quân tử, nên đề phòng quá cẩn thận thì tốt. Hào này dương cương đắc chính là quân tử, nhưng vì quá cương (dương ở vị dương), tự thị, không đề phòng cẩn thận nên bị vạ. Hào này xấu nhất trong quẻ vì bị 2 hào âm ở trên ép xuống, 2 hào âm ở dưới thúc lên, chỉ có mỗi hào 4 là bạn, mà chẳng giúp được gì.

4. Cửu Tứ (Hào 4 dương):

Lời kinh: 九 四: 无咎, 弗過遇之, 往厲, 必戒; 勿用永貞.

Dịch âm: Vô Cửu, phất quá ngộ chi, vãng lệ, tất giới; vật dụng vĩnh trinh.

Dịch nghĩa: Không lỗi vì không quá dương mà vừa đúng với đạo lý thời Tiểu quá; nếu tiến tới thì nguy, nên răn về điều đó, đừng cố giữ đức cương của mình, mà nên biến thông.

Giải nghĩa: Hoàn cảnh hào này y hệt hào 3; cũng bị 2 hào âm ép ở trên, 2 hào âm thúc ở dưới, và cũng ở chỗ chưa dứt được với nội quái, chưa lên hẳn được ngoại quái, đáng lẽ cũng xấu, nhưng nhờ 4 tuy dương mà ở vị âm, như vậy là hơi biết mềm dẻo, không quá cương như 3, đúng với đạo lý thời Tiểu quá, chi nên không có lỗi.
Tuy nhiên phải nhớ đừng tiến lên mà theo hai hào âm, như vậy là quá nhu mất, sẽ nguy; mà cũng đừng cố chấp giữ tính dương cương của mình, mà nên biến thông.

5. Lục Ngũ (Hào 5 âm):

Lời kinh: 六 五: 密雲不雨, 自我西郊; 公弋,取彼在穴.

Dịch âm: Mật vân bất vũ, tự ngã tây giao; Công dặc, thủ bỉ tại huyệt.

Dịch nghĩa: Mây kịt mà không mưa ở cõi tây của ta, công bắn mà bắt lấy nó ở hang.

Giải nghĩa: Âm dương tiếp xúc với nhau thì mới thành mua, nay âm lên quá cao rồi (hào 5), dương ở dưới, âm dương bất hoà, có cái tượng mây kịt mà không mưa ở cõi tây của ta (như thoán từ quẻ Tiểu súc số 9), đại ý là không làm được gì cả; vì là âm nhu, bất tài lại ở vào thời âm nhiều quá. Chỉ có một cách là xuống tìm hào 2, cũng âm, mà làm bạn. Chữ “cộng” (ông) ở đây trỏ hào 5, “bỉ” (nó) trỏ hào 2; hào 2 ở vị âm, tối tăm cho nên ví với cái hang.

6. Thượng Lục (Hào 6 âm):

Lời kinh: 上 六: 弗遇過之, 飛鳥離之. 凶, 是謂災眚.

Dịch âm: Phất ngộ quá chi, phi điểu li chi. Hung, thị vị tai sảnh.

Dịch nghĩa: Không đúng với đạo mà lại sai quá, như cánh chim bay cao quá, xa quá, sợ bị tai vạ.

Giải nghĩa: Hào này âm nhu, mà biến động vì ở ngoại quái Chấn (động), lại ở vào cuối thời Tiểu quá,1 là thái quá, cho nên bảo là sai đạo quá; có cái tượng con chim bay cao quá, xa quá rồi; khó kéo lại được mà còn sợ bị tai vạ nữa. Hào 6 này âm là tiểu nhân, tiểu nhân mà vượt lên trên quân tử (dương hào 4), cho nên răn là sẽ bị tai hoạ.
Quẻ này khuyên quân tử ở vào thời tiểu nhân quá nhiều thì đừng nên quá cương như hào 3, mà nên mềm mỏng một chút, biến thông như hào 4.

2. Quẻ Phục Hy Kinh Dịch Lôi Sơn Tiểu Quá trong chiêm bốc, đoán quẻ

Triệu và điềm của quẻ Tiểu Quá

Quẻ Tiểu Quá có triệu Cấp Quá Độc Kiều – Tiến lợi lui hại.. Có bài thơ như sau:

Cầu khỉ chênh vênh, thật khó đi,

Chủ nhân tâm sự, bất an ninh.

Giao dịch góp vốn, nên rộng rãi,

Hôn nhân muốn thành chớ dềnh dàng.

Dụng thần quẻ Tiểu Quá

Quẻ Tiểu Quá là quẻ Du Hồn. Quẻ thiếu hai Thân là: Thê Tài Đinh Mão Mộc và Tử Tôn Đinh Hợi Thủy. Đây là hai Phục Thần của quẻ Quá. Vậy hai Phi Thần tương ứng lầ Quan Quý Bính Ngọ Hỏa và Quan Quỷ Canh Ngọ Hỏa.

Xét trường hợp thứ nhất ở hào như: Phục Thần Đinh Mão Mộc sinh Phi Thần Bính Ngọ, Hỏa, trường hợp này là “Phục khu sinh Phi vi tiết khí”. Như đã nói nhiều ở các quẻ trên đây.

Xét trường hợp thứ hai ở hào tứ: Phục Thần Đinh Hợi Thủy khắc Phi Thần Canh Ngọ Hỏa. Trong trường hợp này Dịch Học gọi là xuất bao: người giúp mình lại phản lại mình, phải để phòng can thận và kín đáo.